Vinamilk

Hiệp định CPTPP: Tiêu chuẩn về sở hữu trí tuệ trong ngành chăn nuôi

(SHTT) - Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có tiêu chuẩn rất cao về sở hữu trí tuệ (SHTT). Đối với ngành chăn nuôi, chế biến thịt, các cam kết CPTPP về SHTT có liên quan trực tiếp là cam kết về nông hóa phẩm.

Hiện nay, giá thành sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam còn cao hơn một số nước thành viên CPTPP. Nguyên nhân chủ yếu do sản xuất nhỏ, manh mún, giống vật nuôi chưa đảm bảo, năng suất vật nuôi thấp, năng suất lao động rất thấp, chi phí đầu vào cao do phụ thuộc khá nhiều vào NK (dù xóa bỏ thuế nhưng vẫn phải chịu chi phí vận chuyển, kiểm dịch). Chi phí phòng chống dịch bệnh khá cao trong khi các khoản phí và lệ phí tuy đã bỏ nhiều nhưng vẫn còn chồng chéo. Sản xuất - tiêu thụ chưa theo chuỗi nên phí trung gian nhiều. Cơ chế tín dụng đối với ngành chăn nuôi chưa hợp lý như khó tiếp cận vốn vay, lãi suất ngân hàng cao hơn khá nhiều so với nhóm các nước phát triển trong AEC, trong EVFTA, trong CPTPP…

Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm và an toàn vệ sinh thực phẩm trong ngành chăn nuôi nhìn chung vẫn còn thấp. Những nguyên nhân cơ bản do môi trường chăn nuôi đang bị ô nhiễm, dịch bệnh vẫn còn xảy ra ở khu vực chăn nuôi nông hộ và trang trại nhỏ, lò mổ thủ công không đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y vẫn còn quá nhiều, còn nhiều nông hộ, trang trại chưa thực hành chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAHP và đảm bảo an toàn sinh học.

nganh chan nuoi

 Hiệp định CPTPP: Tiêu chuẩn về sở hữu trí tuệ trong ngành chăn nuôi

Nông hóa phẩm là các sản phẩm có chứa hóa chất phục vụ nông nghiệp, như thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, phân bón, các loại hóa chất vệ sinh chuồng trại… Chăn nuôi là khu vực sử dụng khá nhiều nông hóa phẩm.

CPTPP có tiêu chuẩn rất cao về sở hữu trí tuệ (SHTT). Đối với ngành chăn nuôi, chế biến thịt, các cam kết CPTPP về SHTT có liên quan trực tiếp là cam kết về nông hóa phẩm.

Cam kết SHTT đặc thù nhất trong CPTPP đối với nông hóa phẩm là cam kết về thời hạn bảo hộ đối với kết quả thử nghiệm và các dữ liệu khác, về tính an toàn của nông hóa phẩm chưa công khai – còn gọi là “Độc quyền dữ liệu” khi đăng kí lưu hành nông hóa phẩm.

Cụ thể, cam kết này bao gồm các nội dung cơ bản sau:

– Nếu người nộp đơn xin phép lưu hành một nông hóa phẩm mới phải cung cấp các kết quả thử nghiệm, hoặc dữ liệu khác chưa công bố về mức độ an toàn và hiệu quả của sản phẩm thì trong vòng 10 năm sau đó, Cơ quan cấp phép sẽ không được dựa trên các thông tin này để cho phép người khác lưu hành nông hóa phẩm cùng loại, hay tương tự trừ khi được người đã cung cấp thông tin đồng ý.

– Cam kết tương tự với trường hợp cấp phép lưu hành nông hóa phẩm, dựa trên bằng chứng về việc đã được cấp phép lưu hành trên thị trường nước ngoài.

Ngoài ra, trong các Thư song phương với các đối tác, liên quan tới cam kết này, các nước thành viên CPTPP sẽ không kiện Việt Nam theo cơ chế giải quyết tranh chấp cấp Chính phủ của CPTPP (cơ chế nêu tại Chương 28 CPTPP) trong vòng 5 năm, sau năm thứ 5 kể từ khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực. Nói cách khác Việt Nam có 10 năm để chuẩn bị cho việc thực thi nghĩa vụ này.

Cam kết về độc quyền dữ liệu đối với nông hóa phẩm có thể dẫn đến một số tác động đáng chú ý:

– Tạo ra lợi thế lớn cho các chủ thể lần đầu đưa ra dữ liệu thử nghiệm khi đăng kí lưu hành nông hóa phẩm (bởi trong vòng 10 năm sau đó, không ai được tự động sử dụng dữ liệu thử nghiệm đó nữa dù có thể dữ liệu thử nghiệm đó công khai, đáng tin cậy, và việc thử nghiệm lại cũng chỉ cho kết quả tương tự).

– Hạn chế khả năng đăng kí lưu hành với sản phẩm tương tự, qua đó khiến giá của nông hóa phẩm đã lưu hành ít có khả năng giảm (do ít cạnh tranh).

Vân Anh