Việt Nam và tiềm năng phát triển tại thị trường sản phẩm Halal toàn cầu
Tại Hội nghị, ông Ramlan Bin Osman, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia (HALCERT- thuộc Ủy ban Tiêu chuẩn Ðo lường Chất lượng quốc gia) cho biết Việt Nam sở hữu nguồn nguyên liệu thô tiềm năng dồi dào cho ngành Halal, bao gồm cà phê, gạo, hải sản, sản phẩm nuôi trồng thủy sản, gia vị, các loại hạt, rau củ và trái cây, cho thấy khả năng lớn trong việc sản xuất các sản phẩm cuối cùng. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã được công nhận là một trong những điểm đến du lịch quốc tế hàng đầu vào năm 2018. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển mạnh mẽ của ngành dịch vụ lưu trú, bao gồm nhà hàng Halal và dịch vụ ăn uống.
Để khai thác tiềm năng to lớn và cơ hội phát triển của thị trường sản phẩm Halal, ông Ramlan Bin Osman cho rằng, khi Việt Nam tham gia vào thị trường Halal, sẽ tiếp cận và mở rộng được hơn nhiều sản phẩm, dịch vụ. Các doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định, quy trình sản xuất Halal, kiểm soát và đảm bảo tuân thủ và bảo vệ toàn vẹn sản phẩm Halal của Việt Nam khi ra thị trường thế giới.
HALAL theo tiếng Ả Rập có nghĩa là hợp pháp, được phép dựa trên việc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu và phù hợp với các chuẩn mực, giá trị, thiêng luật của đạo Hồi hay theo chuẩn của Kinh Qua'ran.
Chia sẻ tại hội nghị, ông Lê Phú Cường - Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Malaysia cho biết, chứng chỉ Halal không phải là yêu cầu bắt buộc đối với hàng nhập khẩu vào Malaysia. Tuy nhiên, nhiều nhà nhập khẩu, phân phối, bán lẻ ưu tiên lựa chọn sản phẩm có chứng chỉ Halal để đáp ứng phần đông người tiêu dùng sở tại. Không chỉ hàng thực phẩm, nhiều mặt hàng khác cũng nên có chứng nhận Halal.
Tại Indonesia, ông Phạm Thế Cường - Tham tán Thương mại Việt Nam tại Indonesia cho hay, thị trường này dễ tính hơn so với Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; Khoảng cách địa lý gần giúp giảm chi phí vận chuyển, tăng sức cạnh tranh hàng hóa. Hàng hóa Việt Nam hiện đang từng bước khẳng định vị thế của mình tại thị trường Indonesia với giá trị kim ngạch xuất khẩu đang gia tăng.
Tuy nhiên, đây cũng là thị trường mang tính bảo hộ cao, đòi hỏi về giấy phép nhập khẩu; chứng nhận Halal (phải do cơ quan có thẩm quyền Indonesia cấp); Tiêu chuẩn quốc gia (SNI); quy định về cảng nhập khẩu (một số nhóm hàng); thường xuyên áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.
Theo ông Lê Phú Cường, một trong những rào cản lớn đối với hàng Việt khi tiếp cận thị trường Halal chính là vấn đề chứng nhận Halal. Mặc dù đây không phải là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả hàng nhập khẩu vào Malaysia, song lại là tiêu chí ưu tiên hàng đầu của hầu hết các nhà nhập khẩu, phân phối và bán lẻ nước sở tại. Việc chưa có chứng nhận Halal khiến nhiều sản phẩm Việt khó tìm được vị trí trong hệ thống bán lẻ tại Malaysia.
Không những vậy, quy trình xin cấp chứng nhận Halal tại thị trường Malaysia cũng được đánh giá là phức tạp và tốn kém. Các doanh nghiệp Việt, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt cũng như chi phí liên quan đến việc xin chứng nhận. Điều này dẫn đến thực tế là số lượng sản phẩm có chứng chỉ Halal của Việt Nam còn rất hạn chế.
Ngoài rào cản kỹ thuật, hàng hóa Việt Nam còn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt đến từ các nước trong khu vực đã ký kết hiệp định thương mại tự do với Malaysia như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… Các quốc gia này có ưu thế về sản phẩm phong phú, mẫu mã đa dạng, hệ thống phân phối rộng khắp và đặc biệt là sự am hiểu sâu sắc thị trường tiêu dùng Hồi giáo.
Một thách thức khác mà nhiều doanh nghiệp Việt đang gặp phải là việc thiếu nghiên cứu và điều chỉnh sản phẩm phù hợp với thị hiếu, văn hóa tiêu dùng địa phương. Ví dụ, nhiều sản phẩm thực phẩm như bún, miến, mì… dù tương đồng với khẩu vị người Malaysia nhưng lại chưa được đặt tên theo cách người tiêu dùng dễ hiểu, chưa sử dụng ngôn ngữ bản địa trên bao bì nhãn mác. Điều này khiến cho sản phẩm Việt khó tiếp cận người tiêu dùng phổ thông, đặc biệt là trong các kênh bán lẻ hiện đại.
Phạm Tuấn