TS Cấn Văn Lực: Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2026
Kinh tế Việt Nam năm 2025 được đánh giá là "Ấn tượng" dù trong bối cảnh rủi ro, thách thức và cơ hội đan xen, với thách thức chiếm ưu thế như nêu trên, tạo "Nền tảng" cho đà tăng trưởng 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030.
Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2026
- Tăng trưởng GDP: với nền tảng ấn tượng của năm 2025, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, đột phá về thể chế, môi trường đầu tư - kinh doanh tiếp tục được cải thiện; các động lực tăng trưởng (cả truyền thống và mới) được làm mới và phát huy hiệu quả cao hơn; kinh tế vĩ mô năm 2026 dự báo tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, niềm tin của DN và người dân được củng cố, Việt Nam có đủ điều kiện để bứt phá tăng trưởng. Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2026 có thể tăng 9-9,5% (kịch bản cơ sở) hoặc khả quan hơn, khoảng 10% (kịch bản tích cực), tiệm cận quỹ đạo bứt phá của các nền kinh tế Đông Á trong giai đoạn vượt bẫy thu nhập trung bình.
- Về lạm phát: CPI bình quân năm 2026 dự báo tăng khoảng 4-4,5%,cao hơn năm 2025 do áp lực chi phí đẩy (tiếp tục điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý như tiền lương, giá điện…) và cả yếu tố cầu kéo khi cung tiền tăng ít nhất tương đương năm 2025, vòng quay tiền nhanh hơn (khoảng 0,7–0,75 lần) và độ trễ tăng cung tiền từ năm trước. Tuy vậy, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát nhờ xu hướng hạ nhiệt của giá cả, lạm phát toàn cầu, nguồn cung hàng hóa - dịch vụ thiết yếu trong nước được bảo đảm, tỷ giá và lãi suất cơ bản ổn định, cùng hiệu quả phối hợp chính sách ngày càng được cải thiện.
Bốn kiến nghị
Một là,tập trung thực thi hiệu quả các quyết sách chiến lược, các luật và nghị quyết đã ban hành, tạo nền tảng pháp lý vững chắc và môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch: toàn hệ thống chính trị cần triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV, các quyết sách chiến lược và các luật, nghị quyết, hướng dẫn đã ban hành; cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh; vận hành thông suốt mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tháo gỡ kịp thời các vướng mắc, nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, khắc phục triệt để tình trạng lãng phí (nhất là các dự án, tài sản tồn đọng).
Hai là, mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên giai đoạn 2026-2030 cùng với ổn định kinh tế vĩ mô là rất thách thức, nhưng cũng là quyết định tiền đề tiến tới đạt các mục tiêu đề ra. Theo đó, cần làm mới động lực tăng trưởng truyền thống và khai thác hiệu quả các động lực mới. Với các động lực truyền thống,cần giữ vững mặt trận xuất khẩu (gồm cả đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ), kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong nước, trong đó cải thiện thực chất môi trường đầu tư – kinh doanh, tăng niềm tin là then chốt.
Với các động lực mới: cần sớm xác lập mô hình tăng trưởng mới (chuyển mạnh từ dựa nhiều vào vốn và lao động sang dựa nhiều hơn vào KHCN, chuyển đổi số, cải cách, tăng năng suất và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn...). Theo đó, cần đẩy mạnh cải cách thể chế kinh tế, thực hiện hiệu quả các quyết sách chiến lược; đẩy mạnh ứng dụng KHCN, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng; phát triển các ngành công nghiệp chiến lược, công nghiệp văn hóa, du lịch - giải trí...); phát triển các thị trường, dư địa mới (như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, thị trường carbon, tài sản mã hóa, giao dịch hàng hóa...); tạo điều kiện các đầu tàu kinh tế (như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, TP Huế, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Đồng Nai….) tăng tốc; quyết tâm tăng năng suất lao động (vừa là động lực mới, vừa góp phần tăng chất lượng tăng trưởng). Tất cả những yếu tố này cùng với việc đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế (như nêu dưới đây) sẽ giúp đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ngày càng nhiều hơn, chất lượng hơn.
Ba là, kiên định ổn định kinh tế vĩ mô, theo đóchính sách tài khóa cần là chủ lực, chính sách tiền tệ bổ trợ, phối hợp hài hòa (với cả các chính sách vĩ mô khác) nhằm thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát; bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu (gồm cả điện năng), điều hành linh hoạt lãi suất - tỷ giá, bình ổn thị trường vàng, lành mạnh hóa thị trường BĐS, kiểm soát giá nhà đất và rủi ro liên thông giữa thị trường tài chính, tiền tệ - BĐS. Cùng với đó, sớm xây dựng Đề án cải cách thị trường tài chính, phát triển thị trường tài chính cân bằng, đồng bộ, theo đó tăng trưởng tín dụng chỉ nên duy trì mức vừa phải (15-16%) gắn với chú trọng phân bổ tín dụng hiệu quả, tăng quy mô tín dụng xanh, đa dạng hóa huy động vốn từ thị trường chứng khoán, trái phiếu, quỹ đầu tư; quyết tâm nâng hạng thị trường chứng khoán theo đúng lộ trình; vận hành trung tâm tài chính quốc tế, thị trường tín chỉ carbon, tài sản mã hóa…theo kế hoạch, phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm, các loại nguồn vốn cho KHCN, đổi mới sáng tạo và năng lượng…v.v.
Bốn là, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng: (i) đẩy nhanh tiến độxử lý các dự án còn vướng mắc, tồn đọng nhằm giải phóng nguồn lực, chống lãng phí, cũng là tăng hiệu quả đẩu tư; (ii) Chú trọng cơ cấu lại các DNNN, TCTD yếu kém còn lại, cơ cấu lại đầu tư công theo hướng bền vững (tăng tỷ trọng đầu tư cho KHCN, y tế, giáo dục, hạ tầng số và hạ tầng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. …); (iii) Xây dựng Đề án chuyển đổi xanh quốc gia; đề án nâng cao sức chống chịu và tự chủ chiến lược của nền kinh tế và doanh nghiệp, nhất là lĩnh vực công nghiệp chiến lược, công nghiệp phụ trợ./.
TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu kinh tế BIDV
TIN LIÊN QUAN
Tin khác
- Tìm Vay Tiền Nhanh Trả Góp
