Thanh Hóa: Tăng cường ứng dụng khoa học trong nuôi tôm công nghệ cao
Sau nhiều năm gắn bó với nghề nuôi tôm, anh Hồ Văn Dương, tổ dân phố Yên Châu, phường Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã trở thành một trong những hộ tiên phong ứng dụng khoa học công nghệ vào nuôi tôm thẻ chân trắng, xây dựng mô hình sản xuất hiện đại, hiệu quả và từng bước hình thành chuỗi nuôi tôm bền vững.
Bước ngoặt từ sự hỗ trợ của Chi cục Biển đảo và Thủy sản Thanh Hóa
Trải qua nhiều thất bại, nhờ vào sự hỗ trợ kỹ thuật từ Chi cục Biển đảo và Thủy sản Thanh Hóa, từ năm 2018, anh Hồ Văn Dương đã mạnh dạn đổi mới công nghệ và bắt đầu mô hình nuôi tôm công nghệ cao. Ảnh: Nguyễn Khang
Giai đoạn 2009 đến năm 2018, anh Hồ Văn Dương trải qua không ít lần thành công xen lẫn thất bại khi nuôi tôm theo phương thức truyền thống. Theo anh, những rủi ro về dịch bệnh, thời tiết và môi trường khiến hiệu quả sản xuất thiếu ổn định, chi phí ngày càng tăng.
Bước ngoặt đến từ năm 2018, khi anh nhận được sự quan tâm, hướng dẫn và hỗ trợ chuyên môn của Chi cục Biển đảo và Thủy sản Thanh Hóa. Từ đó, anh mạnh dạn đầu tư cơ sở hạ tầng, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để chuyển đổi sang mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao.
Khởi đầu với diện tích khoảng 2 ha vào năm 2019, đến nay trang trại của anh đã mở rộng lên 6,5 ha, tạo việc làm thường xuyên cho 11 lao động được đào tạo về vận hành thiết bị và quản lý sản xuất theo quy trình công nghệ.
Hiện nay, mô hình của anh đạt sản lượng bình quân khoảng 120 tấn tôm thương phẩm mỗi năm, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời giảm đáng kể các rủi ro trong quá trình nuôi.
Xây dựng mô hình nuôi tôm theo quy trình khép kín
Mô hình nuôi tôm khép kín ứng dụng kiến thức khoa học chuẩn mực đã giúp anh Hồ Văn Dương thu về trái ngọt. Ảnh: Nguyễn Khang
Theo anh Hồ Văn Dương, muốn nuôi tôm công nghệ cao thành công, trước hết phải đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất ngay từ đầu.
Anh cho biết, toàn bộ khu nuôi được chia thành nhiều khu chức năng riêng biệt gồm ao ương giống, ao nuôi giai đoạn hai, ao nuôi thương phẩm, ao lắng, ao chứa nước sạch, ao xử lý nước và khu xử lý chất thải nhằm bảo đảm quy trình khép kín.
"Muốn nuôi tôm công nghệ cao thì cơ sở hạ tầng phải xây dựng đồng bộ theo từng giai đoạn nuôi. Ao lắng, ao xử lý nước và khu xử lý chất thải là những hạng mục bắt buộc để bảo đảm môi trường nuôi ổn định và giảm thiểu rủi ro dịch bệnh", anh Dương chia sẻ.
Anh Dương là một trong những người tiên phong xây dựng mô hình nuôi tôm công nghệ cao trên địa bàn phường Ngọc Sơn (Thanh Hóa). Ảnh: Nguyễn Khang
Theo kinh nghiệm thực tế của anh, với quy hoạch khoảng 1 ha diện tích, khu nuôi cần bố trí khoảng 3.000 m² ao nuôi, 2.000 m² ao sẵn sàng, 300 m² ao chứa và khoảng 2.000 m² khu xử lý nước thải.
Các ao được chia thành ba giai đoạn gồm ao ương, ao nuôi lứa và ao nuôi thương phẩm. Với cách tổ chức này, mỗi lứa có thể thu khoảng 6 tấn tôm thương phẩm, đồng thời duy trì sản xuất luân phiên để đạt tổng sản lượng khoảng 30 tấn/ha mỗi năm.
"Việc chia nhỏ các giai đoạn nuôi giúp bà con luôn có dòng tiền từ lứa trước để tiếp tục đầu tư cho lứa sau, hạn chế áp lực tài chính và giảm đáng kể rủi ro trong sản xuất", anh Dương nói.
Ứng dụng công nghệ số nâng cao hiệu quả sản xuất
Điểm khác biệt lớn nhất của mô hình là ứng dụng đồng bộ các thiết bị công nghệ trong toàn bộ quá trình nuôi.
Các ao nuôi đều được lắp đặt hệ thống xi phông hút chất thải tự động, hệ thống quan trắc môi trường tự động, máy cho ăn tự động và thiết bị theo dõi sức khỏe tôm bằng công nghệ số.
Bên cạnh đó, hệ thống cung cấp oxy luôn được duy trì đầy đủ để bảo đảm điều kiện sinh trưởng tối ưu cho tôm.
Theo anh Dương, máy cho ăn tự động mang lại hiệu quả rất rõ rệt.
Việc ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất không chỉ giúp nâng cao năng suất nuôi tôm, mà còn làm giảm sức lao động cho nhân công tại trang trại. Ảnh: Nguyễn Khang
"Máy cho ăn hoạt động liên tục 24/24 giờ, giúp kiểm soát chính xác lượng thức ăn theo nhu cầu của tôm, hạn chế thức ăn dư thừa, giảm phát sinh khí độc trong ao, từ đó giảm chi phí thức ăn cũng như lượng chế phẩm sinh học phải sử dụng", anh chia sẻ.
Anh phân tích thêm, với phương pháp cho ăn thủ công, người nuôi thường sử dụng lượng thức ăn cố định theo kinh nghiệm. Khi thời tiết thay đổi hoặc tôm lột xác, lượng thức ăn dư thừa sẽ tăng lên, vừa gây lãng phí vừa làm ô nhiễm môi trường nước. Trong khi đó, hệ thống tự động có thể điều chỉnh linh hoạt theo tình trạng thực tế của đàn tôm.
Một yếu tố khác được anh đặc biệt chú trọng là con người.
"Công nghệ hiện đại chỉ phát huy hiệu quả khi người quản lý và công nhân được đào tạo bài bản. Chủ đầu tư cần hiểu quy trình, còn công nhân phải biết vận hành thiết bị đúng kỹ thuật. Nếu vẫn quản lý theo cách truyền thống thì rủi ro sẽ rất cao", anh Dương nhấn mạnh.
Quy trình ba giai đoạn giúp giảm rủi ro dịch bệnh
Theo kinh nghiệm thực tế sau nhiều vụ nuôi, anh Hồ Văn Dương xây dựng quy trình nuôi tôm kéo dài khoảng 95 ngày với ba giai đoạn.
Ở giai đoạn đầu, tôm được ương từ 20 đến 25 ngày và được xét nghiệm để kiểm soát chất lượng giống, phát hiện sớm các mầm bệnh.
Sau khi các chỉ tiêu an toàn được bảo đảm, tôm được chuyển sang giai đoạn nuôi thứ hai trong khoảng 45 đến 50 ngày trước khi bước vào giai đoạn nuôi thương phẩm kéo dài khoảng 50 ngày.
Theo anh, việc chia nhỏ quy trình giúp người nuôi dễ dàng phát hiện và loại bỏ sớm các đàn tôm không đạt yêu cầu, giảm thiểu thiệt hại nếu phát sinh dịch bệnh.
Đối với bệnh EHP, căn bệnh đang gây nhiều thiệt hại cho nghề nuôi tôm trong những năm gần đây, anh cho rằng người nuôi cần thay đổi tư duy.
"Chúng ta không thể tiêu diệt hoàn toàn EHP mà phải chấp nhận sống chung với nó. Điều quan trọng là kiểm soát tốt các vi khuẩn cơ hội, đặc biệt là Vibrio gây bệnh gan tụy và đường ruột. Khi kiểm soát được Vibrio thì hoàn toàn có thể hạn chế tác động của EHP, giúp tôm vẫn sinh trưởng bình thường và đạt năng suất", anh chia sẻ.
Những mẻ tôm chất lượng là thành quả của sự đổi mới và nỗ lực cải thiện hệ thống chăn nuôi không ngừng của người nông dân xứ Thanh. Ảnh: Nguyễn Khang
Hướng tới sản xuất bền vững và xây dựng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn OCOP
Không chỉ tập trung vào năng suất, anh Hồ Văn Dương còn hướng mô hình đến các tiêu chuẩn sản xuất an toàn.
Theo anh, trong thời gian tới, việc kiểm soát dư lượng kháng sinh, truy xuất nguồn gốc, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn như VietGAP hay OCOP sẽ trở thành yêu cầu bắt buộc.
"Khi sản phẩm đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, con tôm sẽ có cơ hội vào hệ thống siêu thị, đầu ra ổn định hơn và người nuôi có thể chủ động kế hoạch sản xuất, hạch toán chi phí để phát triển lâu dài", anh Dương cho biết.
Phường Ngọc Sơn hiện có khoảng 200 ha nuôi tôm, trong đó khoảng 80% diện tích đã ứng dụng công nghệ cao. Việc phát triển các mô hình như của anh Hồ Văn Dương đang góp phần tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương, nâng cao giá trị sản phẩm thủy sản, đồng thời thúc đẩy ngành nuôi tôm của Thanh Hóa phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Nguyễn Khang
TIN LIÊN QUAN
-
Thanh Hóa: Tăng cường quảng bá, kết nối tiêu thụ vịt Cổ Lũng trên các nền tảng mạng xã hội
-
Thanh Hóa: Tăng cường nâng cao năng lực thực thi quyền sở hữu trí tuệ cho lực lượng chức năng
-
Thanh Hóa: 62 gian hàng tham gia phiên chợ nông sản, thực phẩm an toàn
-
Trường Tiểu học Luận Thành: Đổi mới không ngừng vì sự nghiệp giáo dục miền núi Thanh Hóa