SO HUU TRI TUE
Thứ bảy, 04/04/2026
  • Click để copy

So sánh pháp luật về Thuế thu nhập đối với thu nhập từ tài sản mã hóa của Trung Quốc và Việt Nam

14:44, 04/04/2026
(SHTT) - Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, sự phát triển nhanh chóng của tài sản mã hoá đã làm thay đổi cách thức tạo lập và chuyển giao giá trị, đồng thời đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật thuế truyền thống.

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã mở ra giai đoạn phát triển mới, làm mờ ranh giới giữa thế giới vật lý, số hóa và sinh học, trong đó tài sản mã hóa nổi lên như một thành tựu nổi bật, tạo làn sóng mạnh mẽ trên thị trường tài chính toàn cầu và tại Việt Nam. Tính đến năm 2024, Việt Nam có khoảng từ 17 đến 21 triệu người sở hữu hoặc sử dụng tài sản mã hoá, quy mô ước tính đạt 220 - 230 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tỷ lệ chấp nhận tài sản mã hoá cao trên thế giới. Việt Nam đã bước đầu công nhận giá trị pháp lý và xây dựng cơ chế quản lý đối với loại tài sản này. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý tài sản mã hoá bộc lộ nhiều bất cập pháp lý, đặc biệt là lỗ hổng trong hệ thống thuế hiện hành đối với tài sản mã hóa, gây khó khăn cho công tác quản lý và thất thu ngân sách, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế giám sát phù hợp.

Trong khi đó, Trung Quốc là một trong những quốc gia tiếp cận tài sản mã hoá một cách khắt khe và cẩn trọng. Pháp luật Trung Quốc không xây dựng một hệ thống thuế riêng đối với tài sản mã hoá, mà điều chỉnh thông qua các quy định thuế hiện hành. 

tai san ma hoa

 Ảnh: VIDHI

Khái quát về tài sản mã hóa và thu nhập từ tài sản mã hóa

Đạo luật Thị trường tài sản tiền điện tử MiCA của Liên minh Châu Âu EU định nghĩa “tài sản mã hoá là đại diện kỹ thuật số của giá trị hoặc quyền có thể được chuyển giao và lưu trữ điện tử bằng cách sử dụng công nghệ sổ cái phân tán hoặc công nghệ tương tự”. Luật Công nghiệp công nghệ số 2025 của Việt Nam quy định: “Tài sản mã hóa là một loại tài sản số mà sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực đối với tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao. Tài sản mã hóa không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về dân sự, tài chính”.

Từ những khái niệm và đặc điểm của tài sản mã hóa được phân tích ở trên, nhóm tác giả rút ra một cách khái quát nhất đối với tài sản mã hoá: “Tài sản mã hoá (crypto assets) là một dạng tài sản kỹ thuật số có giá trị hoặc quyền được hình thành, ghi nhận và chuyển giao thông qua việc sử dụng các thuật toán mã hoá và công nghệ chuỗi khối (blockchain)”.

Thu nhập từ tài sản mã hóa được hiểu là các khoản lợi ích kinh tế mà cá nhân, tổ chức thu được từ việc sở hữu, giao dịch và khai thác hoặc đầu tư vào tài sản mã hóa. Thu nhập này có thể phát sinh dưới nhiều hình thức khác nhau và thường chưa được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật thuế tại Việt Nam.

Thu nhập từ tài sản mã hóa được phân chia thành nhiều loại thu nhập khác nhau, dựa vào nguồn gốc phát sinh các khoản thu đó, bao gồm: thu nhập từ giao dịch mua bán; thu nhập từ đầu và nắm giữ TSHM; thu nhập từ khai thác TSMH; thu nhập từ cho vay.

Những thu nhập phát sinh từ tài sản mã hóa mang những đặc trưng riêng biệt so với các loại thu nhập truyền thống, xuất phát từ bản chất công nghệ và cơ chế vận hành của loại tài sản này. Trước hết, thu nhập từ tài sản mã hóa khó kiểm soát và xác định do tính ẩn danh và phi tập trung của tài sản mã hóa. Thu nhập từ những tài sản này không phụ thuộc vào các trung gian tài chính truyền thống như ngân hàng hay tổ chức tín dụng, từ đó dẫn đến khó khăn cho các cơ quan quản lý trong việc theo dõi, kiểm soát và xác định chính xác nguồn thu. Các giao dịch tài sản mã hóa thường không gắn trực tiếp với danh tính thực của chủ thể, mà thông các địa chỉ ví điện tử. Điều này khiến cho việc xác định chủ thể nộp thuế hoặc truy vết dòng tiền trở nên phức tạp, đặc biệt trong các trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Đồng thời, thu nhập từ tài sản mã hóa mang tính xuyên biên giới - có thể phát sinh từ các giao dịch trên phạm vi toàn cầu mà không bị giới hạn bởi lãnh thổ quốc gia. Đặc điểm này đặt ra thách thức lớn trong việc xác định nơi phát sinh thu nhập, thẩm quyền quản lý thuế cũng như cơ chế phối hợp giữa các quốc gia.

Thuế thu nhập đối với thu nhập từ tài sản mã hóa bao gồm những đặc điểm chung của thuế thu nhập và đặc điểm riêng xuất phát từ yếu tố “tài sản mã hóa”:

Thứ nhất, thuế thu nhập đối với thu nhập từ tài sản mã hóa phát sinh trên cơ sở thu nhập từ giao dịch tài sản mã hóa. Khác với các loại tài sản truyền thống, tài sản mã hóa thường phát sinh từ các hoạt động như mua bán, trao đổi, đầu tư,... từ việc tham gia mạng lưới blockchain. Do đó, nghĩa vụ nộp thuế thu nhập đối với tài sản mã hóa chủ yếu được xác định khi có sự phát sinh lợi ích kinh tế từ việc chuyển nhượng hoặc khai thác tài sản này.

Thứ hai, đối tượng chịu thuế mang tính đa dạng và phụ thuộc vào hình thức thu nhập từ tài sản mã hóa. Thu nhập từ tài sản mã hóa có thể phát sinh từ nhiều hoạt động khác nhau như giao dịch mua bán tiền mã hóa, đầu tư token, staking,... Do đó, đối tượng chịu thuế không chỉ giới hạn ở các hoạt động chuyển nhượng tài sản, mà còn có thể bao gồm nhiều loại thu nhập khác phát sinh trong hệ thống sinh thái blockchain. Điều này khiến việc xác định đối tượng chịu thuế trở nên phức tạp hơn so với các thu nhập từ tài sản truyền thống.

Thứ ba, việc quản lý và thu thuế đối với thu nhập từ tài sản mã hoá gặp khó khăn do tính ẩn danh và phi tập trung của công nghệ blockchain. Các giao dịch tài sản mã hoá thường được thực hiện thông qua hệ thống blockchain với cơ chế địa chỉ ví điện tử thay vì danh tính cá nhân, khiến việc xác định chủ thể thực hiện giao dịch trở nên phức tạp. Bên cạnh đó, nhiều sàn giao dịch tài sản mã hoá hoạt động ở nước ngoài hoặc theo mô hình phi tập trung, không chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan thuế trong nước. Điều này làm phát sinh thách thức lớn trong việc theo dõi dòng tiền, xác định nghĩa vụ thuế và ngăn ngừa hành vi trốn thuế.

 Nội dung pháp luật về thuế thu nhập đối với thu nhập từ tài sản mã hóa bao gồm:

Thứ nhất, đối tượng chịu thuế và chủ thể nộp thuế: đối tượng chịu thuế yêu cầu xác định rõ những thu nhập nào từ tài sản mã hóa và thu nhập từ những tài sản mã hóa nào phải thực hiện nghĩa nộp thuế. Đây là những nội dung quan trọng nhất của pháp luật về thuế, làm căn cứ để từ đó xác định các nội dung khác của thuế như căn cứ tính thuế, sự kiện phát sinh nghĩa vụ nộp thuế, hoàn thuế. Ngoài ra, nội dung xác định đối tượng chịu thuế và chủ thể nộp thuế còn quy định các đối tượng được miễn, giảm thuế thu nhập.

Thứ hai, quy định về căn cứ tính thuế và sự kiện phát sinh nghĩa vụ nộp thuế thu nhập đối với tài sản mã hóa. Thu nhập tính thuế thường được xác định trên cơ sở phần chênh lệch giữa giá trị tài sản mã hóa tại thời điểm chuyển nhượng và chi phí bỏ ra để tạo lập hoặc mua tài sản đó. Ngoài ra, sự kiện phát sinh nghĩa vụ nộp thuế bao gồm các sự kiện tạo ra thu nhập từ tài sản mã hóa như mua bán, chuyển nhượng, đầu tư tài sản mã hóa, nhận thừa kế tài sản mã hóa, ...

Thứ ba, quy định về kê khai, thời hạn nộp thuế và thu thuế. Đồng thời xác định chủ thể thu thuế thuộc thẩm quyền của cơ quan nào. Những nội dung này vừa mang tính chất của pháp luật về thuế vừa là nội dung của pháp luật về quản lý thuế, có ý nghĩa trong việc làm tiền đề, cơ sở cho những thay đổi nội dung quy định cụ thể pháp luật về thuế thu nhập đối với thu nhập từ tài sản mã hóa.

Pháp luật về thuế thu nhập đối với thu nhập từ tài sản mã hóa tại Trung Quốc

Mặc dù Trung Quốc áp dụng chính sách quản lý nghiêm ngặt, thậm chí hạn chế mạnh mẽ đối với hoạt động giao dịch và lưu thông tài sản mã hoá, song về mặt lý luận và quản trị nhà nước, quốc gia này vẫn thừa nhận những vai trò nhất định của tài sản mã hóa trong bối cảnh phát triển kinh tế số. Trước hết, tài sản mã hoá được nhìn nhận như một động lực thúc đẩy đổi mới công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực nền tảng như công nghệ chuỗi khối (blockchain), mật mã học và hạ tầng dữ liệu số, qua đó góp phần nâng cao năng lực công nghệ lõi và khả năng tự chủ công nghệ quốc gia. Tuy nhiên, từ góc độ quản lý vĩ mô, Trung Quốc đồng thời xác định tài sản mã hoá là nguồn tiềm ẩn rủi ro lớn đối với ổn định tài chính, quản lý tiền tệ và hiệu quả của chính sách thuế. Chính vì vậy, thay vì ưu tiên khai thác nguồn thu ngân sách từ việc đánh thuế thu nhập liên quan đến tài sản mã hoá, Trung Quốc lựa chọn cách tiếp cận đặt trọng tâm vào kiểm soát và phòng ngừa rủi ro, coi đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm an ninh tài chính và trật tự kinh tế - xã hội.

tai san ma hoa1

Ảnh: SCMP 

Đối với thuế thu nhập từ thu nhập liên quan đến tài sản mã hoá, Trung Quốc không ban hành luật thuế riêng để quản lý thuế đối với thu nhập từ tài sản này mà tích hợp trong hai văn bản luật sẵn có là Luật thuế thu nhập cá nhân (IIT) và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (EIT).

Đối với chủ thể chịu thuế và nộp thuế, IIT chia đối tượng nộp thuế thành hai loại chính bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú, căn cứ theo thời gian cư trú, từ đó làm căn cứ để xác định thuế thu nhập phải nộp khác nhau tương ứng với hai chủ thể này. Trong khi đó, Luật thuế thu nhập doanh EIT áp đặt nghĩa vụ thuế đối với chủ thể là doanh nghiệp hoặc tổ chức có thu nhập trong lãnh thổ Trung Quốc, trừ doanh nghiệp tư nhân một thành viên và doanh nghiệp hợp danh. Doanh nghiệp cũng được chia thành hai loại gồm doanh nghiệp cư trú và doanh nghiệp không cư trú cho mục đích xác định nghĩa vụ thuế tương ứng với từng doanh nghiệp.

Đối với thu nhập chịu thuế, dựa theo IIT (Điều 2), xác định thuế thu nhập của cá nhân từ tài sản mã hoá có thể là thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thu nhập vãng lai như trúng thưởng, thu nhập bất ngờ. Trong khi đó, thu nhập chịu thuế được xác định với doanh nghiệp trong EIT (Điều 6) bao gồm các khoản thu nhập bằng tiền và phi tiền tệ từ chuyển nhượng tài sản hoặc được xếp vào các khoản thu nhập khác không xác định trước.

Đối với căn cứ tính thuế bao gồm thu nhập chịu thuế và thuế suất.

Một là thu nhập chịu thuế. Thu nhập chịu thuế không phải toàn bộ thu nhập của tài sản mã hoá mà được tính toán bù trừ tuỳ theo từng loại thu nhập. Khi tài sản mã hoá được xem là tài sản hoặc khoản thu nhập vãng lai, IIT sẽ tính thu nhập từ tài sản này bằng cách lấy thu nhập từ chuyển nhượng hoặc thu nhập vãng lai trừ đi giá trị nguyên bản của tài sản và các chi phí hợp lý. Về phía doanh nghiệp, EIT xây dựng cách xác định thu nhập chịu thuế phức tạp hơn do đặc thù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sẽ được tính là số còn lại sau khi lấy tổng thu nhập trừ cho các khoản không và miễn thuế, các khoản khấu trừ và các khoản lỗ được phép bù trừ. Nhìn chung, phương pháp xác định này không thể tách bạch thu nhập từ tài sản mã hoá với các khoản thu nhập khác của doanh nghiệp mà gộp chung chúng lại với nhau.

Đối với thuế suất, Trung Quốc lựa chọn xác định thuế theo thuế suất phần trăm/tương đối. Mức thuế với các thu nhập này thường ở mức tương đối cao. Đối với thuế thu nhập của cá nhân, mức thuế suất được áp dụng từ thu nhập đối với tài sản là 20% (khoản 3 Điều 3 IIT). Đối với thuế suất của doanh nghiệp, EIT (Điều 4) quy định mức thuế suất cao hơn một bậc là 25% (trường hợp chưa được hưởng ưu đãi).

Trung Quốc không quy định bất kỳ khoản ưu đãi hay miễn giảm nào cho thu nhập từ tài sản mã hoá đối với cả cá nhân lẫn doanh nghiệp, cho thấy quan điểm thắt chặt các giao dịch liên quan đến tài sản này.

Trong bối cảnh tài sản mã hoá, việc áp dụng thuế thu nhập tại Trung Quốc bộc lộ sự căng thẳng nội tại giữa chính sách quản lý tài chính và nguyên tắc đánh thuế thu nhập. Một mặt, nhà nước Trung Quốc cấm các hoạt động giao dịch và kinh doanh tiền mã hoá trong nước nhằm bảo đảm ổn định tài chính và kiểm soát rủi ro hệ thống; mặt khác, pháp luật thuế vẫn khẳng định nguyên tắc mọi khoản thu nhập hợp pháp và xác định được đều thuộc diện chịu thuế. Trên thực tế, Trung Quốc chưa xây dựng một cơ chế thuế chuyên biệt đối với thu nhập từ tài sản mã hoá, mà chủ yếu áp dụng các quy định chung của pháp luật thuế thu nhập trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền chứng minh được sự tồn tại của lợi ích kinh tế thực tế phát sinh từ các hoạt động liên quan đến crypto, đặc biệt là các giao dịch mang tính xuyên biên giới.

Thực trạng pháp luật về thuế thu nhập đối với thu nhập từ tài sản mã hóa tại Việt Nam

Thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển tiếp về phương diện pháp lý lẫn cấu trúc kinh tế. Khác với mô hình cấm đoán toàn diện từng được áp dụng tại Trung Quốc, Việt Nam lựa chọn cách tiếp cận dung hòa giữa khuyến khích đổi mới sáng tạo và kiểm soát rủi ro hệ thống. Trước yêu cầu thực tiễn đó, hệ thống pháp luật Việt Nam đã ghi nhận những bước tiến quan trọng. Luật Công nghiệp Công nghệ số 2025 (Luật số 71/2025/QH15), có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, lần đầu tiên đưa khái niệm “tài sản số” và “tài sản mã hóa” vào phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự, qua đó chấm dứt tình trạng “phi thừa nhận” kéo dài trong nhiều năm. Tiếp đó, Nghị quyết 05/2025/NQ-CP thiết lập cơ chế thí điểm vận hành thị trường tài sản mã hóa trong giai đoạn 2025-2030, đặc biệt đối với các tài sản mã hóa được bảo chứng bằng tài sản thực. Nghị quyết này đồng thời đặt ra các điều kiện nghiêm ngặt đối với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa (VASPs), bao gồm yêu cầu vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng, cơ cấu cổ đông có sự tham gia chi phối của các tổ chức tài chính lớn và giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài. Song song đó, Bộ Tài chính đã đề xuất cơ chế thuế theo hướng tương tự thị trường chứng khoán, bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp 20% đối với tổ chức và thuế suất 0,1% trên doanh thu từng lần chuyển nhượng đối với cá nhân giao dịch trên nền tảng được cấp phép, đồng thời miễn thuế giá trị gia tăng đối với các giao dịch này.

tai san ma hoa2

Ảnh: SCMP 

Đối chiếu với quy định và cách thức xây dựng pháp luật thuế thu nhập nói chung và thuế đối với tài sản mã nói riêng, có thể thấy giữa Việt Nam và Trung Quốc có những sự tương đồng nhất định nhưng cũng chứa những điểm khác biệt cốt lõi.

Thứ nhất, về mặt giống nhau, cả Việt Nam và Trung Quốc đều chưa xây dựng một sắc thuế độc lập với thu nhập từ tài sản mã hoá mà áp dụng các quy định thuế hiện hành. Bên cạnh đó, quy định pháp luật về thuế thu nhập ở Việt Nam và Trung Quốc đều phân loại thu nhập từ tài sản mã hoá vào thu nhập truyền thống bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng tài sản đối với cá nhân và thu nhập từ hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp.

Thứ hai, cách tiếp cận pháp lý, cơ chế áp dụng thuế, khả năng thực thi pháp luật thuế thu nhập đối với thu nhập từ tài sản mã hoá và xử lý lỗ. Nếu Trung Quốc cấm phần lớn hoạt động liên quan đến tài sản mã hoá nhưng vẫn đánh thuế nếu phát sinh thu nhập thì Việt Nam lại đang mở cửa chính thức cho tài sản mã hoá theo hướng có kiểm soát. Cơ chế áp dụng của Trung Quốc không có những hướng dẫn riêng cụ thể mà áp dụng linh hoạt trong khi Việt Nam đang cho thấy xu hướng áp dụng tương tự thuế chứng khoán. Khả năng thực thi của Trung Quốc cho thấy cái nhìn cứng nhắc hơn đối với tài sản mã hoá so với Việt Nam, đây vừa là lợi thế của Việt Nam, nhưng cũng cho thấy nguy cơ rủi ro hợp pháp hóa dòng tiền bẩn nếu không sớm có chính sách thuế và quản lý thuế hiệu quả.

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thứ nhất, cần xác định rõ địa vị pháp lý của tài sản mã hoá làm cơ sở cho việc đánh thuế. Thực tiễn Trung Quốc cho thấy, dù không công nhận hợp pháp trong hoạt động tài chính, việc thừa nhận giá trị tài sản vẫn là nền tảng để áp dụng nghĩa vụ thuế. Tại Việt Nam, dù đã thừa nhận giá trị tài sản của tài sản mã hóa nhưng việc phân loại cũng như xác định rõ bản chất quyền đối với tài sản nãy vẫn chưa được làm rõ. Việc xác định rõ các vấn đề này tạo điều kiện xác định và phân loại các khoản thu nhập có thể đánh thuế, từ đó xác định các căn cứ tính thuế và thuế suất hiệu quả hơn.

Thứ hai, cần xây dựng nguyên tắc đánh thuế dựa trên bản chất kinh tế của thu nhập, không phụ thuộc hoàn toàn vào tính hợp pháp của giao dịch. Các quy định cấm đối với tài sản mã hoá của Trung Quốc vẫn không làm mất đi khả năng thu thuế từ thu nhập đối với tài sản này, từ đó Việt Nam cũng nên học tập việc đánh thuế với những thu nhập vãng lai, từ những tài sản mã hoá chưa được điều chỉnh bởi pháp luật.

Thứ ba, Việt Nam có thể áp dụng cơ chế thuế linh hoạt trong giai đoạn đầu, bằng cách vận dụng các sắc thuế hiện hành (như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp), tương tự cách tiếp cận của Trung Quốc, trước khi xây dựng một hệ thống thuế riêng hoàn chỉnh. Việc này giúp giảm chi phí ban hành một văn bản luật và kịp thời lấp đầy khoảng trống thuế đối với loại tài sản này, tránh nguy cơ hợp pháp hoá các dòng tiền bất hợp pháp thông qua thuế. Đồng thời tạo điều kiện cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về thuế hiệu quả.

Thứ tư, cần xây dựng các nguyên tắc và nội dung thuế phù hợp, cân bằng giữa thúc đẩy phát triển thị trường tài sản mã hoá và đảm bảo an toàn cho thị trường. Thị trường tài sản mã hóa còn mới mẻ với Việt Nam nhưng đã thu hút lượng nhà đầu tư đông đảo. Vì vậy chương trình thuế với sắc thuế phù hợp, có cơ chế quản lý hỗ trợ từ công nghệ và nhân lực trình độ cao, đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thuế đúng và đủ sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế trong khuôn khổ thay vì kìm hãm và làm giảm hứng thú với thị trường với thuế suất quá cao và chính sách thuế quá nghiêm khắc.

Trong bối cảnh tài sản mã hoá phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, việc nghiên cứu pháp luật thuế đối với thu nhập từ loại tài sản này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả Việt Nam và Trung Quốc đều chưa xây dựng một hệ thống thuế riêng đối với tài sản mã hoá mà chủ yếu áp dụng các quy định thuế hiện hành dựa trên bản chất kinh tế của thu nhập. Tuy nhiên, trong khi Trung Quốc áp dụng chính sách kiểm soát chặt chẽ, thậm chí cấm các hoạt động liên quan nhưng vẫn duy trì nguyên tắc đánh thuế, thì Việt Nam đang từng bước hoàn thiện khung pháp lý theo hướng thận trọng, có kiểm soát và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế số, từ đó gợi mở những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Nhóm sinh viên Khoa Luật, Học viện Ngân hàng

Lê Thị Thuý

Lê Ánh Dương Huyền

Nguyễn Ngọc Linh

Phan Văn Uý

Cao Yến Nhi

Tin khác

Pháp luật 50 giây trước
(SHTT) - Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, sự phát triển nhanh chóng của tài sản mã hoá đã làm thay đổi cách thức tạo lập và chuyển giao giá trị, đồng thời đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật thuế truyền thống.
Pháp luật 3 giờ trước
(SHTT) - Theo thông tin tại Họp báo tình hình, kết quả các mặt công tác công an Quý I/2026 do Bộ Công an tổ chức chiều ngày 3/4/2026, đại diện cơ quan chức năng cho biết, trong vụ án sàn giao dịch ONUS, các đối tượng đã thuê KOLs, người nổi tiếng để định hướng, lôi kéo nhiều nhà đầu tư tham gia.
Pháp luật 3 giờ trước
(SHTT) - Công an thành phố Hà Nội vừa tiến hành điều tra, bắt giữ ổ nhóm lừa đảo tại Công ty Sky Media dưới hình thức lôi kéo người dân mua điện thoại giá cao để chiếm đoạt tài sản.
Pháp luật 6 giờ trước
(SHTT) - Tại Họp báo thông báo tình hình, kết quả các mặt công tác công an Quý I/2026 tổ chức chiều 03/4/2026, Bộ Công an đã cung cấp các thông tin mới nhất về tiến độ điều tra các vụ án liên quan đến hệ sinh thái Mailisa và Công ty Cổ phần Dược phẩm Hoàng Hường.
Pháp luật 6 giờ trước
(SHTT) - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị.
.