Sở hữu trí tuệ và kinh tế di sản Ninh Bình: Khi vẻ đẹp ngàn năm thành tài sản
Bức ảnh bìa và một câu hỏi chờ lời đáp…
Nhìn từ đỉnh một vách núi đá vôi, Ninh Bình hiện ra như bức tranh thủy mặc mà thiên nhiên đã kỳ công phác thảo suốt hàng triệu năm. Dưới chân núi, những chiếc thuyền nan chở du khách lặng lẽ trượt qua các hang động kỳ bí, nơi ánh sáng len lỏi qua khe đá tạo thành những dải vàng như trong cổ tích. Xa hơn một chút, mái ngói rêu phong của đền thờ cố đô Hoa Lư lặng lẽ nhắc nhở về một triều đại đã định hình đất nước hơn nghìn năm trước.
Ảnh bìa số Đặc san chào mừng 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam của Tạp chí Sở hữu trí tuệ và tác phẩm ấn tượng của Nhiếp ảnh gia Nguyễn Kỳ Nam chụp quần thể Tràng An từ trên cao.
Bức ảnh bìa của đặc san này chụp từ trên cao xuống quần thể Tràng An – Ninh Bình: con sông như dải lụa xanh uốn lượn giữa vách núi, những mái đền phủ cây xanh, ánh chiều vàng óng trên mặt nước. Đó là tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật của nhiếp ảnh gia kỳ cựu Nguyễn Kỳ Nam, không phải ảnh chụp nhanh du lịch. Và đó là điểm khởi đầu cho câu hỏi mà bài viết này muốn đặt ra: Với tài nguyên di sản khổng lồ như Ninh Bình đang sở hữu – thiên nhiên, văn hóa, lịch sử, đặc sản địa phương – làm thế nào để những báu vật đó không chỉ là 'cảnh đẹp để chụp ảnh' mà trở thành tài sản trí tuệ sinh lời bền vững cho cả cộng đồng?
Câu trả lời, thú vị thay, nằm trong lĩnh vực mà nhiều người không ngờ tới: sở hữu trí tuệ.
Kho báu đa tầng cho kinh tế di sản Ninh Bình
Ninh Bình sở hữu tổ hợp di sản hiếm có mà nhiều tỉnh thành Việt Nam không có được. Ở tầng thiên nhiên, Tràng An – được UNESCO vinh danh là Di sản Thế giới hỗn hợp từ năm 2014 – là một trong những cảnh quan karst cuối cùng còn nguyên vẹn ở Đông Nam Á, với hàng chục hang động chứa di chỉ khảo cổ hàng nghìn năm tuổi. Cúc Phương, vườn quốc gia đầu tiên của cả nước với hơn 22.000 hecta, là 'lá phổi xanh' và kho báu đa dạng sinh học quý giá.
Ở tầng văn hóa – lịch sử, cố đô Hoa Lư là nơi khởi nghiệp của hai triều đại Đinh và Tiền Lê, đặt nền móng cho quốc gia Đại Việt độc lập. Chùa Bích Động – 'Nam thiên đệ nhị động' – và hàng chục ngôi đền, chùa, miếu mạo là kho kiến trúc tôn giáo vô giá. Chùa Bái Đính hiện là ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á.
Ở tầng sản phẩm địa phương, Ninh Bình có danh mục đặc sản đáng tự hào: thịt dê núi, cơm cháy, rượu Kim Sơn, nem chua Yên Mạc, thêu ren Văn Lâm. Mỗi sản phẩm là sự kết tinh của điều kiện địa lý đặc thù và trí tuệ dân gian tích lũy qua nhiều thế hệ.
Bến thuyền Tràng An chụp từ trên cao. Ảnh: Nguyễn Kỳ Nam
Trong giai đoạn 2015–2023, lượng khách du lịch đến Ninh Bình tăng từ khoảng 5 triệu lên hơn 7,5 triệu lượt/năm. Nhưng đằng sau những con số đó là những dấu hiệu đáng lo ngại. Mô hình 'chụp ảnh rồi về' vẫn chiếm ưu thế – du khách đến, ăn trưa, mua ít đặc sản, rời đi, để lại dòng tiền tiêu dùng rất hạn chế cho cộng đồng địa phương. Áp lực lên hệ sinh thái Tràng An ngày càng tăng. Và đau lòng hơn: không ít sản phẩm mang tên 'đặc sản Ninh Bình' trên các sàn thương mại điện tử là hàng giả mạo xuất xứ, làm tổn hại cả người tiêu dùng lẫn thương hiệu thực sự.
Đây chính là lúc sở hữu trí tuệ trở thành công cụ không thể thiếu – không như thủ tục hành chính mà như chiến lược phát triển tổng thể.
Khi sở hữu trí tuệ mở khóa cho kinh tế di sản
Khi đặt vai trò “mở khóa” của SHTT đối với kinh tế di sản Ninh Bình, sẽ giúp thấy rõ được vai trò của các công cụ SHTT.
Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý: Biến tên gọi thành giá trị đo được
Hãy bắt đầu từ một ví dụ cụ thể: thịt dê Ninh Bình – sản phẩm gắn liền với địa danh này trong tâm trí thực khách cả nước. Thế nhưng trong một thời gian dài, bất kỳ ai cũng có thể bán thịt dê bất kỳ và dán nhãn 'thịt dê Ninh Bình' mà không vi phạm quy định nào. Hệ quả: người tiêu dùng không phân biệt được thật-giả, người nông dân Ninh Bình chăn nuôi đúng quy trình truyền thống không được bảo vệ khỏi cạnh tranh không lành mạnh.
Mô hình thành công nhất để tham chiếu là nước mắm Phú Quốc – sản phẩm Việt Nam đầu tiên được bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại EU (năm 2012). Nhờ đó, nước mắm Phú Quốc chính hãng tại châu Âu có giá cao gấp 3–4 lần sản phẩm tương đương không có chứng nhận, và người sản xuất có cơ sở pháp lý để kiện hàng giả mạo. Ninh Bình hoàn toàn có thể xây dựng mô hình tương tự cho thịt dê núi, rượu Kim Sơn, cơm cháy, thêu ren Văn Lâm. Xa hơn, 'Tràng An – Ninh Bình' có thể trở thành nhãn hiệu chứng nhận cho toàn bộ hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ du lịch đạt chuẩn của vùng đất này.
Tuyệt Tình Cốc, một trong những địa điểm check-in không thể bỏ qua khi đến với Ninh Bình. Ảnh: Nguyễn Kỳ Nam
Bản quyền hình ảnh: Khi nhiếp ảnh gia là người tạo ra giá trị thực
Đây là vấn đề nhạy cảm và thực tế nhất đối với Ninh Bình trong thời đại mạng xã hội. Mỗi ngày, hàng trăm nghìn bức ảnh về Tràng An, Tam Cốc, chùa Bích Động được tải lên internet. Trong số đó, không ít bức ảnh nghệ thuật chất lượng cao – thứ thực sự tạo ra sức hút cho điểm đến – là tác phẩm của những nhiếp ảnh gia đã tốn hàng giờ, thậm chí nhiều ngày để tìm kiếm góc máy, ánh sáng, khoảnh khắc hoàn hảo.
Những bức ảnh đó bị chia sẻ, tải về, chỉnh sửa và dùng cho mục đích thương mại mà không ai hỏi ý kiến tác giả. Công ty du lịch dùng ảnh quảng cáo. Khách sạn dùng ảnh trang trí website. Nhà xuất bản dùng ảnh in sách hướng dẫn. Nhiếp ảnh gia – người thực sự tạo ra giá trị thẩm mỹ thu hút du khách – không nhận được thù lao nào.
Tam Cốc mùa lúa chín là một trong những thời điểm thu hút lượng lớn khách du lịch đến với Ninh Bình. Ảnh: Nguyễn Kỳ Nam
Giải pháp không phải là cấm chụp ảnh hay hạn chế chia sẻ – điều đó sẽ giết chết sức hút của điểm đến. Giải pháp là xây dựng hệ sinh thái sử dụng ảnh minh bạch: doanh nghiệp du lịch phải trả phí tác quyền cho ảnh thương mại; các nền tảng số cần công cụ nhận diện và bảo vệ bản quyền ảnh; và nhiếp ảnh gia cần được hỗ trợ đăng ký bản quyền theo cách đơn giản, dễ tiếp cận, ít tốn kém.
Di sản phi vật thể: Khoảng trống pháp lý và trách nhiệm chủ động
Một trong những thách thức phức tạp nhất là bảo hộ di sản văn hóa phi vật thể – những điệu hát dân ca, các nghi lễ tế lễ cố đô Hoa Lư, kỹ thuật thêu ren Văn Lâm được truyền từ bà sang cháu suốt nhiều thế kỷ. Theo Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, di sản phi vật thể không được bảo hộ trực tiếp như tác phẩm có tác giả xác định, tạo ra khoảng trống pháp lý nguy hiểm: doanh nghiệp nước ngoài có thể đăng ký nhãn hiệu sử dụng tên gọi hay hình ảnh liên quan đến di sản Việt Nam mà không cần sự đồng ý của cộng đồng địa phương.
Điều đó đòi hỏi sự chủ động từ chính địa phương. Ninh Bình cần xây dựng kho lưu trữ số về di sản văn hóa phi vật thể, đồng thời phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ để đăng ký bảo hộ những ký hiệu, tên gọi, hình ảnh đặc trưng nhất – trước khi người khác làm điều đó thay.
Công nghệ số và du lịch thông minh: Tài sản trí tuệ của tương lai
Ninh Bình đang bước vào chương mới của phát triển du lịch – và ở đó, tài sản trí tuệ số đóng vai trò then chốt. Dự án 'Đánh thức vịnh di sản về đêm' – với các màn hình chiếu mapping 3D lên vách núi, biểu diễn nghệ thuật trên mặt nước, trải nghiệm thực tế ảo tái hiện cố đô Hoa Lư – là minh chứng cho hướng đi đúng: nâng cao trải nghiệm du khách mà không làm tổn hại đến di sản vật thể.
Nhưng để những dự án như vậy thực sự bền vững, tất cả yếu tố sáng tạo trong đó – kịch bản ánh sáng, âm nhạc, thiết kế hình ảnh – đều cần được bảo hộ bản quyền rõ ràng. Khi không có bảo hộ, một tỉnh khác có thể sao chép toàn bộ mô hình với chi phí thấp hơn, làm mất đi lợi thế tiên phong của Ninh Bình.
Công nghệ VR/AR còn mở ra cơ hội để Ninh Bình đến với du khách trước khi họ đặt chân đến – một 'bản thể số' của di sản có thể trải nghiệm từ bất kỳ đâu trên thế giới. Bản thể số đó cũng là tài sản trí tuệ cần được bảo vệ ngay từ khi tạo ra.
Thế nhưng, khi nhìn lại vấn đề, cũng thấy rõ những cảnh báo hiện hữu: Nếu thương mại hóa không đi kèm bảo hộ, sẽ là con đường tự phá hủy kinh tế di sản. Thực tiễn đã cho thấy, khai thác quá mức là nguy cơ thường trực với bất kỳ điểm di sản nào nổi tiếng. Khi Tràng An trở nên quá đông, khi tiếng động cơ thuyền phá vỡ sự tĩnh lặng nghìn năm của hang động, khi rác thải bắt đầu ảnh hưởng đến hệ sinh thái – di sản đang bị ăn mòn bởi chính sự nổi tiếng của nó. Không ít điểm du lịch nổi tiếng thế giới đã rơi vào vòng xoáy: càng nổi tiếng càng bị tàn phá, càng bị tàn phá càng mất sức hút, và giá trị sụp đổ nhanh hơn người ta kịp xây dựng.
Trong bối cảnh đó, SHTT đóng một vai trò điều tiết không ngờ tới: khi quyền khai thác thương mại được gắn với trách nhiệm bảo tồn, khi nhãn hiệu du lịch được cấp có điều kiện về tiêu chuẩn môi trường, khi bản quyền hình ảnh đi kèm với nguyên tắc không chụp những khu vực nhạy cảm – SHTT trở thành công cụ quản lý di sản mềm nhưng hiệu quả.
Mùa gặt bên dòng sông Sào Khê. Ảnh: Nguyễn Kỳ Nam
Góp phần xây dựng mô hình kinh tế di sản dựa trên nền tảng SHTT ở Ninh Bình
Thiết nghĩ, với Chiến lược SHTT cấp tỉnh – cần Tầm nhìn tổng thể, không phải danh sách thủ tục. Ninh Bình cần một chiến lược SHTT tích hợp: xác định rõ những di sản và sản phẩm nào được ưu tiên bảo hộ, ai là chủ thể nắm giữ quyền, và cơ chế phân phối lợi ích từ khai thác thương mại cho cộng đồng địa phương được tổ chức như thế nào.
Mô hình có thể tham khảo là tỉnh Yunnan (Trung Quốc), nơi quyền SHTT về di sản dân tộc thiểu số được gắn với cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng với cộng đồng bản địa. Kết quả: chính người dân địa phương trở thành người bảo vệ di sản tích cực nhất vì họ thấy lợi ích trực tiếp từ việc bảo tồn đó – không cần lực lượng chức năng đứng gác.
Với Doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo, Nhà nước cần Phân vai rõ ràng trong hợp tác công – tư. Nhà nước cấp tỉnh xây dựng và quản lý nhãn hiệu chứng nhận 'Di sản Ninh Bình'; đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho các đặc sản; lập kho lưu trữ số về di sản văn hóa phi vật thể. Doanh nghiệp du lịch đăng ký nhãn hiệu cho các mô hình và sản phẩm dịch vụ sáng tạo của mình; ký hợp đồng bản quyền rõ ràng với nhiếp ảnh gia và nghệ sĩ khi sử dụng tác phẩm. Nghệ nhân và cộng đồng địa phương tham gia vào các chương trình OCOP với đầy đủ hồ sơ SHTT; đăng ký bảo hộ kỹ thuật thủ công truyền thống qua nhãn hiệu tập thể.
Với văn hóa SHTT, cần thúc đẩy các tương tác giáo dục - từ người lái đò đến du khách. Người dân Ninh Bình – từ người lái đò Tràng An đến người làm thêu ren Văn Lâm – cần được trang bị kiến thức cơ bản về SHTT: họ sở hữu gì, đâu là ranh giới có thể bị xâm phạm, và họ có thể làm gì để bảo vệ. Ngay cả du khách cũng có thể trở thành người lan tỏa nhận thức. Những thông điệp đơn giản tại điểm tham quan – 'Tác phẩm nhiếp ảnh tại đây có tác giả. Hãy ghi nguồn khi chia sẻ' – có thể tạo hiệu ứng lan tỏa đáng kể mà không tốn nhiều chi phí.
Với ngoại giao về SHTT, cần Hội nhập và bảo vệ thương hiệu quốc tế. UNESCO – cơ quan đã công nhận Tràng An là Di sản Thế giới – là đối tác tự nhiên trong giám sát việc sử dụng tên và hình ảnh di sản trên các nền tảng quốc tế. Đồng thời, Ninh Bình cần đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại các thị trường nguồn khách du lịch chủ chốt: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU. Đây không phải là chi phí mà là đầu tư: chi phí giành lại một nhãn hiệu đã bị người khác đăng ký trước tại nước ngoài cao gấp nhiều lần chi phí đăng ký từ đầu.
Nhìn lại bức ảnh từ đầu bài – những con thuyền nan trên dòng sông xanh biếc giữa vách núi, mái đền cổ kính dưới tán cây, ánh chiều vàng óng trên mặt nước. Đó là khoảnh khắc vô giá. Nhưng giá trị của khoảnh khắc đó không tự nhiên mà có – nó là kết quả của hàng triệu năm địa chất, hàng nghìn năm lịch sử, hàng trăm năm văn hóa dân gian, và công sức của bao nhiêu người gìn giữ, bảo tồn đến ngày hôm nay.
Bảo vệ tài sản trí tuệ gắn với di sản Ninh Bình không phải là đặt rào cản xung quanh vẻ đẹp. Đó là hành động đảm bảo rằng vẻ đẹp đó sẽ tiếp tục tồn tại, tiếp tục được sáng tạo và làm phong phú thêm, và tiếp tục mang lại giá trị cho con người – không chỉ hôm nay mà cho cả những thế hệ chưa sinh ra.
Bến thuyền Tam Cốc, nơi đón hàng ngàn khách du lịch mỗi ngày. Ảnh: Nguyễn Kỳ Nam
Ninh Bình có đủ điều kiện để trở thành mô hình điểm về 'kinh tế di sản dựa trên sở hữu trí tuệ' – không chỉ cho Việt Nam mà còn là bài học tham chiếu cho các quốc gia đang phát triển đối mặt cùng bài toán: làm thế nào để vừa khai thác vừa bảo tồn di sản, vừa hội nhập vừa giữ bản sắc.
Câu trả lời, xét đến cùng, không nằm trong hang động hay trên sườn núi. Nó nằm trong nhận thức và hành động của con người – từ người nông dân trồng rau sạch dưới chân núi Tràng An, đến nhà hoạch định chính sách, đến du khách nhớ ghi nguồn khi đăng ảnh lên mạng xã hội. Đó là lúc sở hữu trí tuệ trở thành văn hóa.
Phạm Tài
TIN LIÊN QUAN
-
Lễ hội Sen Hà Nội 2026: Tôn vinh vẻ đẹp, những giá trị của hoa sen trong đời sống văn hóa Việt Nam
-
Đạo diễn trẻ Bùi Đức Anh: “Điều quý giá nhất với người làm phim là tìm được chất liệu của riêng mình”
-
Du lịch văn hóa tâm linh ở Huế: Khác biệt và đa dạng làm nên thương hiệu
-
Vịnh đẹp thế giới Lăng Cô: ‘Mài sáng viên ngọc xanh’ giữa núi ngàn và biển khơi