SO HUU TRI TUE
Thứ bảy, 19/09/2026
  • Click để copy

Sách giáo khoa và bài toán bản quyền: Từ nhu cầu tiếp cận tri thức đến giải pháp cấp phép trong nhà trường

13:11, 19/09/2026
(SHTT) - Khi một học sinh chưa có sách để học, vấn đề không chỉ nằm ở việc có được photocopy hay không, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng một cơ chế để nhà trường chủ động giải quyết nhu cầu sử dụng tài liệu học tập trong khuôn khổ pháp luật về quyền tác giả.

Sách giáo khoa là một trong những loại tài liệu đặc biệt trong đời sống xã hội. Đó vừa là sản phẩm của hoạt động sáng tạo được pháp luật về quyền tác giả bảo hộ, vừa là công cụ trực tiếp phục vụ hoạt động dạy và học. Chính sự giao thoa giữa hai thuộc tính này khiến câu chuyện sách giáo khoa luôn đặt ra những vấn đề pháp lý đáng quan tâm, đặc biệt khi xuất hiện tình huống học sinh chưa có sách, sách chưa được cung ứng kịp thời hoặc một số tài liệu cần được sao chép để phục vụ hoạt động giáo dục.

Trong thực tế, khi một học sinh chưa có sách giáo khoa, phản ứng tự nhiên của gia đình thường là tìm một bản sách khác để sử dụng, trong đó photocopy có thể được xem như một giải pháp tình thế. Câu hỏi về quyền tác giả vì thế xuất hiện rất nhanh: việc photocopy sách giáo khoa để con học có được pháp luật cho phép hay không?

Nếu chỉ nhìn câu chuyện dưới góc độ hành vi sao chép, câu trả lời có thể tương đối rõ. Nhưng nếu nhìn từ góc độ quản trị quyền và bảo đảm quyền tiếp cận tri thức, vấn đề trở nên rộng hơn rất nhiều.

Điều cần được đặt ra không chỉ là giới hạn của hành vi photocopy, mà là cơ chế nào để một học sinh có thể tiếp cận tài liệu học tập cần thiết, trong khi quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và các chủ thể liên quan vẫn được tôn trọng và bảo đảm?

9cdc0901-eb63-4540-8467-29792555d377-16832858593371038664614

Việc thiếu sách giáo khoa tại nhiều địa phương dịp đầu năm học mới đang làm các diễn đàn về bản quyền sách trở nên sôi nổi hơn. Ảnh: VGP 

Sách giáo khoa là tác phẩm được bảo hộ, nhưng quyền tác giả không phải là một rào cản tuyệt đối

Sách giáo khoa, về bản chất, là tác phẩm được bảo hộ theo pháp luật về quyền tác giả. Quyền sao chép tác phẩm thuộc nhóm quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả. Vì vậy, việc tạo ra bản sao của một tác phẩm, dù dưới hình thức photocopy, chụp ảnh hay bản sao điện tử, về nguyên tắc phải được đặt trong khuôn khổ quyền tác giả, trừ những trường hợp pháp luật quy định là ngoại lệ hoặc chủ thể quyền đã cho phép.

Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành đồng thời thiết lập các trường hợp ngoại lệ nhằm cân bằng giữa quyền của chủ thể sáng tạo với những nhu cầu chính đáng của xã hội. Trong đó có trường hợp sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để phục vụ nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại. Quy định này không có nghĩa rằng toàn bộ một cuốn sách có thể được sao chép chỉ vì mục đích cuối cùng là học tập.

Đối với những trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép, pháp luật hiện hành đặt ra giới hạn đối với việc sao chép hợp lý. Với tác phẩm dạng chữ viết, mức sao chép hợp lý được quy định theo tỷ lệ nhất định trên tổng số trang hoặc đơn vị tương ứng của ấn bản.

Bởi vậy, cần phân biệt rất rõ giữa việc sao chép một phần tác phẩm trong phạm vi ngoại lệ và việc tạo ra bản sao của toàn bộ cuốn sách.

Một phụ huynh photocopy toàn bộ một cuốn sách giáo khoa không thể mặc nhiên được coi là trường hợp sao chép hợp lý chỉ bởi mục đích sử dụng là cho con học tập.

Nhưng ở đây, nếu chỉ đưa ra kết luận rằng “không được photocopy” thì câu chuyện mới chỉ giải quyết được một nửa vấn đề.

Nửa còn lại, và có lẽ quan trọng hơn đối với quản lý giáo dục, là: Nếu nhu cầu học tập là có thật thì cơ chế hợp pháp nào có thể được sử dụng để giải quyết nhu cầu đó?

Khi nhu cầu học tập gặp giới hạn của quyền sao chép

Đây là điểm mà cách tiếp cận về bản quyền cần được thay đổi.

Trong một xã hội mà tri thức ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng, bảo vệ quyền tác giả không nên chỉ được hiểu là ngăn chặn hành vi sao chép trái phép. Bảo vệ quyền tác giả còn phải bao gồm việc xây dựng những phương thức để người có nhu cầu sử dụng tác phẩm có thể tiếp cận tác phẩm theo một cơ chế hợp pháp, minh bạch và khả thi.

Đối với một cá nhân, việc xác định chủ sở hữu quyền, tìm kiếm thông tin liên hệ, đàm phán phạm vi sử dụng và thực hiện thủ tục xin phép có thể là một công việc khó khăn. Nhưng đối với một nhà trường, nơi nhu cầu sử dụng có thể phát sinh đồng thời đối với hàng trăm học sinh, việc xác định nhu cầu lại hoàn toàn có thể được tổ chức ở cấp độ tập thể.

Nhà trường biết học sinh nào cần tài liệu, môn học nào đang sử dụng tài liệu, số lượng cần thiết và thời gian cần sử dụng. Chính vì vậy, nhà trường có điều kiện để trở thành đầu mối tổ chức nhu cầu sử dụng, thay vì để từng phụ huynh tự tìm một giải pháp riêng lẻ.

Từ góc nhìn này, câu hỏi “Phụ huynh có được photocopy sách giáo khoa hay không?” có thể được chuyển thành một câu hỏi có tính quản trị hơn: "Nhà trường có thể làm gì để bảo đảm học sinh được tiếp cận tài liệu học tập, đồng thời bảo đảm quyền sao chép của chủ sở hữu quyền tác giả?".

Sự thay đổi trong cách đặt vấn đề này rất quan trọng, bởi nó chuyển trọng tâm từ hành vi cá nhân sang cơ chế quản lý quyền.

sach-giao-khoa-17894636333591313365108

Cần cố sự chuyển biến trong nhận thức về bảo vệ bản quyền đối với sách giáo khoa. Ảnh: VGP 

Cấp phép là con đường để giải quyết phần nhu cầu nằm ngoài ngoại lệ

Pháp luật về quyền tác giả không chỉ quy định những trường hợp không phải xin phép. Pháp luật đồng thời xây dựng cơ chế để việc sử dụng tác phẩm trong những trường hợp phải xin phép có thể được thực hiện.

Đối với hoạt động giảng dạy, nghiên cứu không nhằm mục đích thương mại, pháp luật hiện hành còn quy định cơ chế chấp thuận việc sao chép tác phẩm trong những trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh. Nghị định 134/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 9/4/2026, đã sửa đổi, bổ sung Nghị định 17/2023/NĐ-CP và quy định cụ thể hơn về thủ tục liên quan đến việc sao chép tác phẩm để giảng dạy, nghiên cứu không nhằm mục đích thương mại, trong đó có hồ sơ đề nghị và kế hoạch sử dụng.

Điều đáng chú ý ở đây là pháp luật không chỉ đặt ra giới hạn cho hành vi sao chép mà còn đưa ra một cơ chế pháp lý để nhu cầu sử dụng được xem xét và giải quyết.

Điều đó mở ra một hướng tiếp cận phù hợp hơn đối với các cơ sở giáo dục: thay vì để việc sao chép diễn ra tự phát, nhà trường có thể chủ động xác định nhu cầu và tìm kiếm cơ chế cấp phép, chấp thuận hoặc sử dụng phù hợp với từng trường hợp cụ thể.

Cần nhấn mạnh rằng điều này không có nghĩa mọi trường học đều mặc nhiên có quyền photocopy toàn bộ sách giáo khoa thông qua một tổ chức đại diện tập thể. Phạm vi quyền được cấp phép phụ thuộc vào quyền của chủ thể quyền, phạm vi đại diện hoặc ủy quyền, mục đích sử dụng, số lượng bản sao, thời hạn và các điều kiện liên quan.

Nhưng chính sự phức tạp đó lại cho thấy nhu cầu về một đầu mối chuyên môn trong việc quản trị quyền.

Từ quản lý tập thể quyền đến bài toán cấp phép cho nhà trường

Trong hệ thống quyền tác giả hiện đại, quản lý tập thể quyền được hình thành một phần để giải quyết những tình huống mà việc từng người sử dụng phải trực tiếp tìm kiếm và thương lượng với từng chủ thể quyền không còn hiệu quả.

Các tổ chức đại diện tập thể có thể hoạt động trong phạm vi quyền được chủ thể quyền ủy quyền, bao gồm những hoạt động liên quan đến quản lý quyền, đàm phán cấp phép và thu, phân chia tiền bản quyền theo quy định và phạm vi được giao.

Đối với lĩnh vực giáo dục, cơ chế này có thể trở thành một phương án đáng nghiên cứu.

Nếu một nhà trường có nhu cầu sử dụng một số lượng bản sao nhất định của một hoặc nhiều tác phẩm để phục vụ hoạt động dạy và học, việc tập trung nhu cầu tại nhà trường sẽ giúp giảm đáng kể chi phí giao dịch so với việc từng gia đình tự tìm kiếm và xử lý vấn đề quyền tác giả.

Một mô hình như vậy có thể tạo ra sự minh bạch cho cả hai phía. Nhà trường biết rõ mình được sử dụng tác phẩm trong phạm vi nào; chủ sở hữu quyền biết tác phẩm của mình được sử dụng ở đâu, với số lượng và mục đích như thế nào; còn học sinh có thể tiếp cận tài liệu cần thiết mà không phải phụ thuộc vào những bản sao không rõ nguồn gốc.

Tuy nhiên, để mô hình này hoạt động, điều kiện tiên quyết vẫn là phải xác định đúng chủ thể quyền và phạm vi quyền được quản lý hoặc ủy quyền. Đây không phải là một thủ tục có thể áp dụng máy móc cho mọi loại sách giáo khoa.

Chính vì vậy, cấp phép tập thể cần được hiểu như một cơ chế quản trị quyền, chứ không đơn giản là một cách hợp thức hóa việc photocopy.

sgk-dt-17646784361341642271069

Sách giáo khoa điện tử có thể trở thành xu hướng mới đáp ứng sự phát triển của thời đại. Ảnh: VGP

Sách giáo khoa điện tử và một lớp quyền mới

Sự phát triển của sách giáo khoa điện tử đang làm cho bài toán này trở nên đáng chú ý hơn.

Trong năm học 2026–2027, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã công bố các phương án tiếp tục sử dụng và tái sử dụng sách giáo khoa đã phát hành; đối với một số sách được chỉnh sửa, nhà xuất bản cũng công bố bản cập nhật dưới dạng PDF trên hệ thống trực tuyến để giáo viên, học sinh và cơ sở giáo dục tra cứu, sử dụng miễn phí.

Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đồng thời cho biết đã triển khai các giải pháp về nguồn cung và đến giữa tháng 8/2026 đã hoàn thành cung ứng hơn 220 triệu bản sách giáo khoa, vượt nhu cầu đặt hàng của các trường học và địa phương.

Những thông tin này cho thấy cần nhìn vấn đề một cách khách quan: không thể đồng nhất một số trường hợp thiếu hoặc chậm tiếp cận sách với tình trạng thiếu sách giáo khoa trên toàn hệ thống.

Tuy nhiên, ngay cả khi nguồn cung sách in được bảo đảm, vấn đề quyền tác giả vẫn không mất đi. Ngược lại, sự phát triển của học liệu số làm xuất hiện thêm những câu hỏi mới.

Quyền được truy cập một bản sách điện tử không đồng nghĩa với quyền tự do tải xuống, sao chép, in ấn hoặc phân phối bản sao đó. Một tài liệu có thể được cho phép đọc trực tuyến nhưng việc tạo thêm bản sao và cung cấp cho nhiều người lại có thể thuộc một phạm vi quyền khác.

Vì vậy, khi giáo dục chuyển dần sang môi trường số, điều cần xây dựng không chỉ là hạ tầng học liệu, mà còn là hạ tầng quyền cho học liệu.

Một giải pháp từ Trung tâm Quyền và Giải pháp Tài sản số

Từ thực tiễn đó, Trung tâm Quyền và Giải pháp Tài sản số có thể tham gia vào bài toán này không phải với tư cách là chủ thể thay thế tác giả, nhà xuất bản hay tổ chức đại diện tập thể, mà với vai trò đơn vị tư vấn, kết nối và hỗ trợ tổ chức quy trình quản trị quyền.

Theo hướng này, khi một nhà trường phát sinh nhu cầu sử dụng tài liệu vượt ngoài phạm vi sử dụng đã được phép hoặc ngoại lệ của pháp luật, Trung tâm có thể hỗ trợ nhà trường xác định tác phẩm, xác định chủ thể quyền, xác định loại quyền cần sử dụng, phạm vi sử dụng, số lượng, thời hạn và phương thức sử dụng.

Trên cơ sở đó, Trung tâm có thể hỗ trợ kết nối nhà trường với chủ thể quyền, nhà xuất bản hoặc tổ chức đại diện tập thể có thẩm quyền, tùy từng trường hợp; đồng thời hỗ trợ xây dựng hồ sơ, quy trình cấp phép, theo dõi phạm vi sử dụng và lưu trữ dữ liệu liên quan đến quyền.

Điểm quan trọng của mô hình này là nhà trường không phải tự mình trở thành một “bộ phận bản quyền”. Nhà trường chỉ cần xác định nhu cầu giáo dục của mình; phần xác định và tổ chức giải pháp quyền có thể được hỗ trợ bởi một đơn vị chuyên môn.

Nếu được phát triển trên nền tảng số, quy trình này còn có thể tiến xa hơn. Mỗi tài liệu có thể được xác lập một hồ sơ quyền điện tử, trong đó ghi nhận thông tin về tác phẩm, tác giả, chủ sở hữu quyền, tình trạng quyền, phạm vi được sử dụng, số lượng bản sao, thời hạn và điều kiện sử dụng. Việc cấp phép, theo dõi và đối soát sau đó có thể được thực hiện trên cùng một hệ thống.

Đây chính là hướng tiếp cận từ quản lý một hành vi sao chép sang quản trị toàn bộ vòng đời của quyền sử dụng tài liệu.

Bản quyền cần được đưa vào hạ tầng của nhà trường

Câu chuyện sách giáo khoa cho thấy một thực tế: khi quyền tác giả chỉ được nhìn nhận ở thời điểm phát sinh tranh chấp, xã hội thường chỉ nhìn thấy hai phía đối lập — một bên cần sử dụng tác phẩm và một bên có quyền đối với tác phẩm.

Nhưng nếu quyền tác giả được đưa vào ngay từ khâu tổ chức hoạt động giáo dục, vấn đề có thể được giải quyết theo một cách khác.

Nhà trường có thể xác định trước nhu cầu sử dụng. Chủ thể quyền có thể xác định trước phạm vi cấp phép. Đơn vị trung gian có thể tổ chức quy trình. Học sinh được tiếp cận tài liệu. Tác giả và chủ sở hữu quyền được ghi nhận và hưởng quyền lợi theo cơ chế phù hợp.

Khi đó, bản quyền không còn xuất hiện như một “lời cảnh báo” vào thời điểm phụ huynh cầm một cuốn sách đi photocopy. Bản quyền trở thành một thành phần của chính hệ thống quản trị giáo dục.

Đây cũng là điều cần được quan tâm trong bối cảnh tài sản trí tuệ ngày càng hiện diện sâu rộng trong nhà trường. Không chỉ sách giáo khoa, giáo viên và học sinh ngày càng sử dụng nhiều giáo trình, bài giảng, hình ảnh, video, phần mềm, cơ sở dữ liệu và các loại học liệu số khác.

Nếu không hình thành được một cơ chế quản trị quyền phù hợp, mỗi nhu cầu sử dụng mới lại có thể trở thành một câu hỏi pháp lý riêng lẻ.

Ngược lại, nếu xây dựng được một hệ thống quản trị quyền, việc sử dụng tài sản trí tuệ trong giáo dục có thể trở nên minh bạch, có thể kiểm soát và có thể mở rộng.

817719116_2979056862486393_4132856398685224725_n

Đầu tháng 9/2026, Công an tỉnh Quảng Trị phát hiện ba tài khoản Facebook đăng tải các bài viết về việc sao chép, photocopy tài liệu, sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 12 để cung cấp, bán cho phụ huynh, học sinh. Ảnh: Công an xã Trường Phú 

Từ câu chuyện photocopy đến một cách nhìn mới về quyền tiếp cận tri thức

Cuối cùng, câu chuyện sách giáo khoa không nên được đặt trong sự đối lập giữa “quyền được học” và “quyền tác giả”.

Hai quyền lợi này không nhất thiết phải loại trừ nhau.

Một nền giáo dục tôn trọng tri thức phải đồng thời tôn trọng người tạo ra tri thức. Nhưng bảo vệ quyền tác giả cũng không nên dừng lại ở việc chỉ ra những hành vi không được phép. Một hệ thống bảo vệ quyền hiệu quả phải tạo ra được con đường hợp pháp để người có nhu cầu sử dụng có thể tiếp cận tác phẩm.

Vì vậy, trước câu hỏi của một phụ huynh rằng “Nếu con tôi chưa có sách thì có thể photocopy cả cuốn để học hay không?”, câu trả lời pháp lý cần rõ ràng về giới hạn của quyền sao chép. Nhưng câu trả lời của hệ thống giáo dục cần đi xa hơn: nếu học sinh cần sách, nhà trường có thể làm gì để giải quyết nhu cầu đó một cách hợp pháp?

Đó là lúc vai trò của nhà trường, nhà xuất bản, chủ sở hữu quyền, tổ chức đại diện tập thể và những đơn vị cung cấp giải pháp quản trị quyền cần được kết nối với nhau.

Và đó cũng là hướng mà Trung tâm Quyền và Giải pháp Tài sản số có thể tham gia: không đứng về phía hành vi photocopy, cũng không đứng về phía việc ngăn cản tiếp cận tri thức, mà đứng ở vị trí xây dựng một cơ chế để quyền được xác lập, việc sử dụng được cho phép và giá trị của tài sản trí tuệ được ghi nhận.

Bởi xét cho cùng, mục tiêu của bảo hộ quyền tác giả không phải là làm cho tri thức trở nên xa cách với người học. Mục tiêu là tạo ra một trật tự trong đó tri thức được tiếp cận, người sáng tạo được tôn trọng và việc sử dụng tác phẩm được thực hiện trên một nền tảng pháp lý minh bạch.

Trong câu chuyện sách giáo khoa, điều chúng ta cần xây dựng vì thế không chỉ là thêm những kênh cung ứng sách.

Chúng ta cần xây dựng cả một hạ tầng quyền để mỗi khi một học sinh cần một cuốn sách, hệ thống có thể trả lời không chỉ bằng câu hỏi “có được photocopy hay không?”, mà bằng một giải pháp rõ ràng: được sử dụng tác phẩm nào, bằng phương thức nào, trong phạm vi nào, với quyền của ai và theo cơ chế nào.

Đó mới là cách để quyền tác giả trở thành một phần của giải pháp cho giáo dục, thay vì chỉ xuất hiện như một giới hạn khi vấn đề đã xảy ra.

Lê Thị Minh Hằng

Chuyên gia SHTT và Bản quyền

Tin khác

Pháp luật 4 phút trước
(SHTT) - Khi một học sinh chưa có sách để học, vấn đề không chỉ nằm ở việc có được photocopy hay không, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng một cơ chế để nhà trường chủ động giải quyết nhu cầu sử dụng tài liệu học tập trong khuôn khổ pháp luật về quyền tác giả.
Pháp luật 1 giờ trước
(SHTT) - Cơ quan chức năng Hải Phòng đã hoàn tất hồ sơ vụ án liên quan Trần Huy Tùng, người bị điều tra về hành vi kinh doanh hơn 1.000 sản phẩm giả mạo 9 nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam.
Pháp luật 20 giờ trước
(SHTT) - Công văn 6467/CT-QLNT của Cục Thuế gửi VCCI đã làm rõ nguyên tắc áp dụng thuế GTGT 5% đối với dịch vụ SHTT thuộc lĩnh vực KH&CN, nhưng chưa giải quyết dứt điểm vướng mắc thực tế. Trong bối cảnh cách hiểu còn khác nhau, cộng đồng doanh nghiệp kiến nghị sớm có cơ chế phối hợp liên ngành, thống nhất hướng dẫn và bảo đảm môi trường pháp lý ổn định.
Pháp luật 1 ngày trước
(SHTT) - Ngày 17/9, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Tạ Thị Ngân, sinh năm 1990, trú tại phường Diên Hồng, để điều tra hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, sau khi cơ quan chức năng phát hiện 748 đôi dép có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu CROCS.
Pháp luật 1 ngày trước
(SHTT) - Ngày 17/9, Công an thành phố Hải Phòng cho biết, Tòa án nhân dân khu vực 9 thành phố Hải Phòng tuyên phạt Nguyễn Kim Tùng 15 tháng cải tạo không giam giữ và 100 triệu đồng về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với 610 sản phẩm giả mạo nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam.