Phóng viên chụp ảnh bị cáo tại phiên tòa rồi hình ảnh lan truyền khắp mạng: Quyền đưa tin đến đâu, quyền hình ảnh được bảo vệ thế nào?
Điều cần bảo vệ không chỉ là “một bức ảnh”, mà là quyền kiểm soát hình ảnh của chính mình
Trong thời đại mạng xã hội, một cú bấm máy tại phiên tòa có thể tạo ra hàng nghìn bản sao trên Internet chỉ sau vài giờ. Vì vậy, pháp luật về quyền hình ảnh không nên được hiểu đơn giản theo công thức “phiên tòa công khai = được đăng ảnh tự do”. Quyền tác nghiệp báo chí là cần thiết, quyền được thông tin của xã hội cũng cần được bảo đảm. Nhưng quyền đó phải được đặt cạnh quyền nhân thân của người xuất hiện trong hình ảnh.
Đặc biệt từ khi Thông tư 12/2026/TT-TANDTC có hiệu lực, việc ghi hình người tham gia phiên tòa đã được đặt trong khuôn khổ rõ hơn: không chỉ cần sự cho phép của Chủ tọa mà còn cần sự đồng ý của chính người được ghi hình trong trường hợp luật quy định. Vì vậy, một nguyên tắc rất đáng nhớ là: đồng ý cho chụp ảnh không đồng nghĩa đồng ý cho sử dụng vô hạn; đồng ý cho một bài báo không đồng nghĩa đồng ý cho cả Internet; và việc một người trở thành bị cáo không làm mất đi quyền của họ đối với hình ảnh của chính mình.
Việc xuất hiện tại phiên tòa không đồng nghĩa với việc hình ảnh của các đối tượng được sử dụng bất chấp các mục đích. Ảnh: CACC
Một bị cáo xuất hiện tại phiên tòa công khai không có nghĩa rằng từ thời điểm đó hình ảnh của họ trở thành “tài sản công cộng” để bất kỳ ai cũng được chụp, đăng lại, cắt ghép, làm thumbnail, chạy quảng cáo hoặc khai thác vô thời hạn. Đây là ranh giới pháp lý rất đáng lưu ý giữa quyền tác nghiệp báo chí và quyền nhân thân của người có hình ảnh.
Theo Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Nguyên tắc chung là việc sử dụng hình ảnh phải được người đó đồng ý; nếu sử dụng vì mục đích thương mại thì còn phải trả thù lao, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Luật chỉ cho phép một số trường hợp sử dụng hình ảnh không cần sự đồng ý, như vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc hình ảnh từ hoạt động công cộng, với điều kiện việc sử dụng không làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
Nhưng phiên tòa công khai không đồng nghĩa phóng viên được tự do ghi hình toàn bộ bị cáo. Từ ngày 1/8/2026, Thông tư 12/2026/TT-TANDTC quy định khá chặt: việc ghi hình tại phiên tòa chỉ được thực hiện trong thời gian khai mạc và tuyên án, công bố quyết định; nếu ghi hình người tham gia phiên tòa thì phải có sự đồng ý của chính người đó và của Thẩm phán chủ tọa.
Công văn 529/TANDTC-PC ngày 19/8/2026 tiếp tục nhấn mạnh việc sử dụng thiết bị điện tử tại phiên tòa phải bảo đảm quyền con người của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác. Điểm quan trọng ở đây là phải tách hai hành vi hoàn toàn khác nhau: “chụp được ảnh” và “được quyền sử dụng ảnh”. Một phóng viên có thể được Tòa án cho phép tác nghiệp, thậm chí được người có hình ảnh đồng ý cho chụp. Nhưng sự đồng ý đó không mặc nhiên là một giấy phép vô hạn để ảnh được sử dụng ở mọi nơi, mọi thời điểm, cho mọi mục đích.
Ví dụ, bị cáo đồng ý để phóng viên A chụp một bức ảnh phục vụ bài đưa tin về phiên xét xử hôm đó. Sự đồng ý này không đương nhiên cho phép tòa soạn dùng chính bức ảnh để chạy quảng cáo thương mại, bán cho bên thứ ba, làm hình minh họa cho một vụ án khác hoặc để hàng loạt fanpage lấy lại nhằm câu view.
Về bản chất, sự đồng ý phải được xem xét theo phạm vi, mục đích và cách thức sử dụng mà chủ thể đã chấp thuận. Đây là điểm rất dễ bị bỏ qua trên môi trường số. Một bức ảnh ban đầu có thể được sử dụng hợp pháp trong một bài báo, nhưng sau đó bị sao chép sang hàng chục TikTok, YouTube, Facebook, fanpage, website khác; bị cắt riêng khuôn mặt, ghép chữ “tội phạm”, “siêu lừa”, “đối tượng nguy hiểm”, dựng thumbnail hoặc gắn vào nội dung thương mại. Tính hợp pháp của lần sử dụng đầu tiên không tự động hợp pháp hóa tất cả những lần sử dụng tiếp theo.
Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền - Giám đốc Công ty Luật TNHH HPL – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
Đồng ý cho chụp không có nghĩa là đồng ý cho “phát tán vô hạn”
Về mặt pháp lý, khi đánh giá sự đồng ý đối với hình ảnh nên đặt ra ít nhất 5 câu hỏi: (1) ai được sử dụng; (2) sử dụng bức ảnh nào; (3) sử dụng ở đâu; (5) nhằm mục đích gì; và (5) trong phạm vi thời gian nào. Nếu cá nhân chỉ đồng ý cho một phóng viên hoặc một cơ quan báo chí sử dụng ảnh trong một bài viết cụ thể, thì việc một bên khác tự lấy ảnh về đăng lại cần được đánh giá độc lập. Đặc biệt, nếu bên thứ ba dùng ảnh để quảng cáo, kéo tương tác, bán hàng, xây dựng thương hiệu hoặc khai thác một giá trị thương mại gắn với chính hình ảnh đó thì yếu tố “mục đích thương mại” càng phải được xem xét nghiêm túc theo Điều 32 BLDS.
Một bức ảnh đúng sự thật vẫn có thể được sử dụng sai pháp luật
Nhiều người thường nghĩ: “Ảnh đúng là của bị cáo, chụp đúng tại phiên tòa thì đăng thế nào cũng được”. Cách hiểu này quá rộng. Quyền hình ảnh không chỉ bảo vệ cá nhân trước ảnh giả. Nó còn bảo vệ họ trước cách khai thác một hình ảnh thật vượt quá căn cứ pháp luật cho phép.
Một bức ảnh hoàn toàn nguyên bản nhưng bị đặt cạnh tiêu đề xúc phạm, bị cắt ghép theo hướng miệt thị, bị sử dụng để quy kết một hành vi không liên quan hoặc bị khai thác làm công cụ quảng cáo vẫn có thể xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người trong ảnh. Điều 32 BLDS đặt thêm điều kiện đối với hình ảnh từ hoạt động công cộng: việc sử dụng không được làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh. Đặc biệt, đối với người đang là bị cáo nhưng bản án chưa có hiệu lực, truyền thông còn phải rất thận trọng với nguyên tắc suy đoán vô tội. Đưa tin về cáo trạng, diễn biến xét xử là một chuyện; biến hình ảnh bị cáo thành công cụ để khẳng định trước công chúng rằng họ chắc chắn là “tội phạm” khi quá trình tố tụng chưa kết thúc lại là câu chuyện khác.
Khi hình ảnh đã lan truyền, có thể yêu cầu xử lý ai?
Không nhất thiết chỉ có một chủ thể chịu trách nhiệm. Nếu phóng viên chụp trái quy định tại phiên tòa, cần xem xét trách nhiệm từ hành vi ghi hình. Nếu cơ quan báo chí sử dụng ảnh vượt quá phạm vi được phép, có thể xem xét trách nhiệm từ hành vi công bố, sử dụng hình ảnh. Nếu một fanpage hoặc kênh TikTok tự sao chép ảnh từ báo rồi sử dụng theo cách xâm phạm quyền nhân thân, chủ thể đăng lại có thể phát sinh trách nhiệm độc lập, chứ không thể đơn giản nói rằng “ảnh đã có trên báo nên ai cũng được lấy”.
Điều 32 BLDS cho phép người bị xâm phạm yêu cầu Tòa án buộc người vi phạm và các chủ thể liên quan thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo pháp luật.
Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền
Giám đốc Công ty Luật TNHH HPL
Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh
TIN LIÊN QUAN
-
Vướng mắc thuế GTGT dịch vụ sở hữu trí tuệ: Doanh nghiệp và hội viên VIPA đứng ngồi không yên
-
Khi ‘bảo vệ bản quyền’ trở thành công cụ kiểm soát: Lỗ hổng quyền tác giả trên nền tảng số nhìn từ hợp đồng độc quyền
-
Giá trị của việc công bố tác phẩm trong giai đoạn tố tụng: Ra tòa mới đăng tác phẩm lên mạng có kịp không?
-
Quyền được lựa chọn của tác giả trong kỷ nguyên AI: Từ thông điệp của MPA đến xu hướng bảo vệ dữ liệu sáng tạo trên thế giới