Vinamilk

Những vấn đề nổi bật được Quốc hội thảo luận trong ngày 30/5

(SHTT) - Ngày 30/5 là ngày đầu Quốc hội thảo luận đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển KTXH và ngân sách nhà nước năm 2018; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2019. Quyết toán ngân sách nhà nước năm 2017.

Một số vấn đề nổi bật được Quốc hội thảo luận trong ngày 30/5

Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát là nhiệm vụ hàng đầu

Tại phiên thảo luận, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đã phát biểu để nói thêm về việc kiểm soát lạm phát, điều hành giá cả, trong đó có giá điện.

Phó Thủ tướng khẳng định “Kiểm soát ổn định kinh tế vĩ mô và lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế là chủ trương và nhiệm vụ hàng đầu của Chính phủ”.

Ba năm qua, Chính phủ đã liên tiếp kiểm soát lạm phát tăng dưới 4%. Trong năm 2019, Quốc hội đề ra mục tiêu kiểm soát lạm phát “khoảng 4%”, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2019 của Chính phủ đặt mục tiêu tích cực hơn là “dưới 4%”. Ban Chỉ đạo giá của Chính phủ sau khi tính toán các yếu tố ở trong nước và tình hình giá cả thế giới trong dài hạn đã lựa chọn mục tiêu điều hành lạm phát năm nay từ 3,3- 3,9%.

quoc hoi

 

Thực tế diễn biến CPI trong 5 tháng đầu năm 2019 theo đúng theo kịch bản được Chính phủ, Ban Chỉ đạo điều hành giá đề ra ngay từ đầu năm nhằm hướng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát theo chỉ tiêu Quốc hội đã giao. Cụ thể, CPI tháng 1/2018 tăng 0,1%, CPI tháng 2/2019 tăng 0,8%, CPI tháng 3/2019 giảm 0,21%, CPI tháng 4/2019 tăng 0,31%, CPI tháng 5 tăng 0,49%.

Bình quân 5 tháng đầu năm tăng CPI 2,74% so với cùng kỳ năm 2018 là mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua (5 tháng đầu năm 2017 tăng 4,47%, năm 2018 tăng 3,01%).

Điều hành giá điện phải bảo đảm 2 mục tiêu

Về giá điện, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết điện là vật tư chiến lược và an ninh an toàn điện là một cân đối lớn và trọng yếu của nền kinh tế. Để tăng 1% GDP thì phải tăng ít nhất 1,5% sản lượng điện. Trong 3 năm qua mức tăng sản lượng điện bình quân là 10,15% và năm 2019 trên cơ sở kịch bản GDP tăng 6,8% thì điện ít nhất phải tăng 11,23%. Vì vậy, điều hành giá điện phải đạt 2 mục tiêu, một là kiểm soát được lạm phát và có giá hợp lý để kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư cho ngành điện.

Theo quy định của Luật Điện lực và Luật Quản lý giá thì điện là mặt hàng điều tiết theo thị trường nhưng có quản lý của nhà nước và khung giá, cơ chế điều chỉnh giá và cơ cấu biểu giá bán lẻ do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Việc điều chỉnh giá điện trên cơ sở rà soát cơ cấu và tổng nguồn điện kể cả thuỷ điện, điện than, điện dầu, tuốc bin khí, điện gió, điện mặt trời thì tổng đầu vào dự kiến tăng lên khoảng 20.032 tỷ đồng, trong đó có điều chỉnh giá than cho điện vào 2 đợt (đợt 1 từ 5/1/2019 và đợt 2 là 20/3/2019) với 5.412 tỷ đồng (Chi phí đầu vào của than cũng tăng khi độ âm khai thác âm 300 m so với mặt nước biển).

Thứ hai là việc điều chỉnh giá than trộn nội địa và nhập khẩu là 1.920 tỷ đồng. Thứ ba là điều chỉnh tăng giá khí trong bao tiêu theo giá thị trường theo Nghị quyết của Quốc hội từ năm 2014 mà bây giờ Chính phủ mới thực hiện được là 5.852 tỷ đồng và điều chỉnh giá khí trên bao tiêu theo giá thị trường là 600 tỷ đồng và chênh lệch tỷ giá là hơn 5.042 tỷ đồng.

Để bảo đảm được bù đắp đó và có mức lợi nhuận tối thiểu 3% cho ngành điện thì EVN và Bộ Công Thương đề xuất 3 kịch bản điều chỉnh giá điện là 7,31%,  8,36% và 9,26%. Trên cơ sở cân nhắc nhiều mặt thì Thường trực Chính phủ đã họp, thảo luận rất kỹ với các bộ, ngành, các Tập đoàn, Tổng công ty và kết luận sẽ chọn phương án 8,36% và điều chỉnh trong khoảng 15-30/3/2019.

“Lý do chọn tháng 3 để tăng giá điện là CPI thường giảm sau khi đã tăng mạnh trong tháng 1 và 2. Thực tế có 10 lần điều chỉnh giá điện thì 4 lần lựa chọn điều chỉnh vào tháng 3. Nếu điều chỉnh muộn hơn, vào giữa năm hoặc tháng 7 thì tỷ lệ điều chỉnh phải cao hơn để bù đắp các khoản trên”, Phó Thủ tướng nói.

Sáp nhập huyện, xã – nhiều vướng mắc

Tham luận về vấn đề sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, xã, các thôn xóm, đại biểu Trần Tất Thế (Hà Nam) cho biết: Trong hơn 30 năm trở lại đây, từ năm 1986 đến năm 2016 số đơn vị hành chính cấp huyện từ 431 đã tăng lên 713; đơn vị hành chính cấp xã tăng 9.657 lên 11.162, bình quân mỗi năm tăng khoảng 50 xã và con số này giữ nguyên cho đến nay. Vì vậy, chủ trương xác nhập đơn vị hành chính, cải cách bộ máy, tiết kiệm ngân sách để đầu tư phát triển là một chủ trương đúng đắn, mang tính đột phá theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6.

Đại biểu chia sẻ, qua tiếp xúc cử tri và ý kiến của nhân dân, đại đa số nhân dân đều đồng tình với chủ trương này. Tuy nhiên, sau khi sáp nhập đã bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc, bất cập như: Khi sáp nhập quy mô, tổ chức Đảng và dân số tăng, nhưng chế độ phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách vẫn giữ nguyên như trước, đây là không hợp lý.

Theo đại biểu, các cấp có thẩm quyền nên phân loại xóm theo quy mô dân số để áp dụng chế độ phụ cấp phù hợp. Bên cạnh đó, quy mô dân số tăng, các thiết chế văn hóa cũ không còn phù hợp, việc tổ chức sinh hoạt cộng đồng gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, rất cần có cơ chế để phát huy hiệu quả cơ sở vật chất của các xóm trước khi sáp nhập. Với các xóm xa trung tâm xã, đại biểu đề nghị xã cho đấu giá đất nhà văn hóa cũ để có kinh phí xây dựng nhà văn hóa mới phù hợp hơn.

Tham luận vấn đề này, đại biểu Nguyễn Sơn (Hà Tĩnh) cho rằng công việc này thực sự cần có quyết tâm chính trị cao và tạo sự đồng thuận thống nhất trong hệ thống chính trị và sự ủng hộ của nhân dân.

Đại biểu đề nghị Chính phủ, Quốc hội, Bộ Nội vụ và các cơ quan cần kịp thời ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể để tạo hành lang pháp lý và cơ chế để các địa phương thuận lợi cho việc triển khai thực hiện sao cho việc sắp xếp lại phải căn bản, cách làm phù hợp, đặc biệt nhiều nơi có điều kiện thuận lợi làm trước và phù hợp với quy hoạch tổng thể, yêu cầu phát triển, đảm bảo ổn định chính trị xã hội. Ngoài các chỉ tiêu cần đặc biệt quan tâm các tiêu chí phù hợp với phong tục tập quán và điều kiện địa lý của cộng đồng.

Sẽ ban hành chính sách xử lý cán bộ dôi dư

Đề cập về giải pháp để thực hiện tốt việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trong thời gian tới, Bộ trưởng Nội vụ cho biết, Bộ thường xuyên phối hợp với các bộ, ngành Trung ương như Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng và Tổng cục Thống kê và các địa phương để rà soát, xây dựng các phương án cụ thể nhằm giúp các địa phương tổ chức tốt đề án.

Đến nay, theo phản ánh của các địa phương, vấn đề khó khăn, vướng mắc nhất trong việc sắp xếp và tổ chức các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã là số lượng lớn cán bộ, công chức dôi dư, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH14 và Nghị quyết số 32/NQ-CP đã đề ra một số giải pháp để giải quyết việc cán bộ, công chức, viên chức dôi dư sau khi sắp xếp. Tuy nhiên, các giải pháp này chưa thật sự hấp dẫn để giải quyết chế độ. Do đó, thời gian tới, Bộ Nội vụ sẽ tham mưu, phối hợp với các cơ quan của Chính phủ để ban hành một số chính sách giải quyết theo nhu cầu thực tiễn của địa phương đã được sắp xếp. 

Mặt khác, để đảm bảo cho việc sắp xếp đồng bộ các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã sắp tới, Bộ Nội vụ đề nghị Ban Tổ chức Trung ương và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, MTTQ cần có hướng dẫn trong việc tổ chức sắp xếp các đơn vị tương ứng cho phù hợp với đề án sắp xếp chung cấp huyện và cấp xã.

Quy hoạch mạng lưới giáo dục gắn với thị trường

Góp ý về vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đại biểu Nguyễn Thị Quyên Thanh (Vĩnh Long) đề nghị, Chính phủ phải quan tâm xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, xây dựng kế hoạch tổng thể gắn kết giữa giáo dục, đào tạo với lao động, việc làm, nhằm phát triển nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện Việt Nam, với cơ cấu, trình độ hợp lý, phù hợp với bối cảnh hội nhập,... 

Cũng theo đại biểu, phải kiểm soát chất lượng đào tạo đại học, đặc biệt là chất lượng đầu vào, kiến thức giáo dục đại học trang bị cho sinh viên phải gắn với khả năng vận dụng vào sản xuất, kinh doanh, cũng như với đời sống xã hội.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước với nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và gửi học sinh giỏi đi đào tạo các trường đại học, dạy nghề có trình độ, đẳng cấp quốc tế, khu vực.

Đồng thời cần quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường lao động trong cả nước, từng vùng và từng địa phương. Xây dựng cơ chế chính sách thực hiện tốt công tác phân luồng, gắn với đào tạo nghề, phát triển kỹ năng nghề trong học sinh sau THCS và THPT.

Chú trọng đến chính sách hỗ trợ các trường nghề nhận học sinh tốt nghiệp THCS, và mức lương khởi điểm cho em học viên tốt nghiệp để thực hiện phân luồng hiệu quả, bên cạnh cơ chế, chính sách huy động nguồn lực xã hội hóa. 

PV


Vinamilk
Sunshine

Xuân Tài
SO HUU TRI TUE