Những bất cập thể chế và rào cản trong hoạt động của CMO tại Việt Nam hiện nay
LỜI TÒA SOẠN: Bản quyền âm nhạc và cơ chế quản lý tập thể quyền (CMO) tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn biến động chưa từng có. Sau hàng loạt biến cố pháp lý và các vụ án hình sự chấn động liên quan đến mảng nội dung số, hạ tầng tài chính cũng như tư cách vận hành của các tổ chức đại diện tập thể – điển hình là Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam (VCPMC) – đã bộc lộ những lỗ hổng thể chế trầm trọng.
Nhằm mang đến cái nhìn toàn diện, khách quan và trực diện vào bản chất vấn đề, Tạp chí Sở hữu trí tuệ & Sáng tạo khởi đăng Chuyên đề báo chí chuyên sâu 5 kỳ: "Tổ chức và hoạt động của các tổ chức quản lý tập thể quyền (CMO) tại Việt Nam: Từ thực tiễn pháp lý đến yêu cầu minh bạch tài chính". Loạt bài sẽ đi sâu phân tích từ khung khổ pháp lý, rào cản thể chế, những "góc khuất" trong hoạt động thu - chi tài chính, cho đến các giải pháp căn cơ nhằm lành mạnh hóa thị trường bản quyền trong kỷ nguyên số.
Ở bài 1, Tổng quan về tổ chức quản lý tập thể quyền (CMO) và bài học quốc tế, chúng ta đã thấy mô hình vận hành hiện đại của các CMO trên thế giới đòi hỏi sự chuyên nghiệp và minh bạch tuyệt đối. Nhưng quay trở lại Việt Nam, những gì đang diễn ra lại cho thấy một sự "lệch pha" sâu sắc giữa quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và thực tiễn thi hành pháp luật về tổ chức Hội. Gốc rễ của mọi sự nhập nhằng nằm ở mô hình "CMO nằm trong Hội nghề nghiệp".
Tại Việt Nam, VCPMC được thành lập như một trung tâm trực thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam, hay VLCC thuộc Hội Nhà văn. Về mặt lý thuyết pháp lý, "Hội viên của Hội nghề nghiệp" hoàn toàn không đồng nhất với "Hội viên ủy quyền của CMO". Một bên tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp để giao lưu, bảo vệ quyền lợi chung; một bên là quan hệ dân sự - thương mại ủy quyền cho tổ chức quản lý tài sản tài sản trí tuệ của mình.
Sự lẫn lộn này tạo ra những hệ lụy pháp lý hết sức phức tạp. Hiện nay, Luật Sở hữu trí tuệ quy định CMO chịu sự quản lý nhà nước chuyên ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Thế nhưng, vì các CMO lại núp dưới bóng của các Hội, nên về mặt tổ chức, tư cách pháp nhân và quản trị nội bộ lại chịu sự điều chỉnh của Bộ Nội vụ theo Nghị định 126/2024/NĐ-CP.
Một chuyên gia pháp lý hàng đầu về SHTT từng 'chua chát' nhận định rằng, pháp luật Việt Nam hiện nay xác lập chế định CMO nhưng lại chưa hề thiết lập một cơ chế pháp lý độc lập về thành lập, đăng ký, công nhận hoặc cấp "Giấy phép hoạt động CMO" riêng biệt. Hậu quả là các tổ chức đành phải "nương" vào mô hình Hội.
Khi một Hội vừa làm nhiệm vụ xã hội, vừa đứng ra thực hiện các giao dịch cấp phép, thu hàng trăm tỷ đồng mỗi năm, khoảng trống thể chế đã xuất hiện. Việc CMO sử dụng con dấu của Hội nghề nghiệp để ký kết các hợp đồng kinh tế thương lượng giá trị lớn, thu tiền tài chính tiềm ẩn rủi ro pháp lý vô cùng lớn nếu xảy ra tranh chấp hoặc truy cứu trách nhiệm.
: Những bất cập thể chế và rào cản trong hoạt động của CMO tại Việt Nam hiện nay. Ảnh minh họa
Bên cạnh sự nhập nhằng thể chế, nguyên tắc thu tiền và giới hạn phạm vi ủy quyền cũng đang bị vi phạm nghiêm trọng trên thực tế. Theo quy định tối cao của pháp luật dân sự và SHTT, CMO chỉ được phép đàm phán, cấp phép và thu tiền trong đúng phạm vi được tác giả hoặc chủ sở hữu quyền ủy quyền bằng văn bản. CMO không thể và không bao giờ được phép tự cho mình cái quyền "đại diện toàn bộ nền âm nhạc" để đi thu tiền đối với những danh mục tác phẩm hoặc phương thức khai thác mà mình chưa từng được giao quyền.
Để siết chặt hoạt động này, Nghị định 134/2026/NĐ-CP đã đưa ra quy định mang tính bước ngoặt: Bắt buộc các CMO (và bất kỳ tổ chức thu hộ nào) phải công khai minh bạch trên trang thông tin điện tử chính thức danh mục tác phẩm, danh mục chủ sở hữu ủy quyền, cùng chi tiết thời hạn và phạm vi địa lý/nền tảng được phép thu. Bất kỳ hành vi nào cố tình thu tiền ngoài phạm vi ủy quyền hoặc "giấu" danh mục đối soát đều sẽ bị xử phạt hành chính nghiêm khắc.
Một trong những "góc khuất" tài chính lớn nhất tại các CMO hiện nay chính là việc xử lý các khoản tiền thu về từ các tác phẩm "chưa tìm thấy chủ sở hữu" hoặc chưa có hợp đồng đại diện song phương.
Trong thực tế giao dịch, không ít trường hợp các CMO đứng ra thu gộp tiền bản quyền từ các đơn vị kinh doanh hoặc nền tảng số đối với những tác phẩm nước ngoài hoặc tác giả chưa đăng ký.
Trước đây, dòng tiền này rất dễ bị rơi vào "khoảng xám" tài chính, bị hòa lẫn vào tài khoản chung để trích phần trăm chi phí vận hành hoặc tính lãi ngân hàng thu lợi cho tổ chức. Nhằm chấm dứt tình trạng này, Nghị định 134/2026/NĐ-CP đã siết chặt kỷ luật tài chính: Toàn bộ khoản tiền ngưng trệ, chưa xác định được chủ sở hữu bắt buộc phải lưu giữ trong một tài khoản ngân hàng riêng biệt, tách biệt hoàn toàn khỏi tài khoản chi phí vận hành của CMO.
Đặc biệt, pháp luật quy định sau thời hạn 90 ngày (hoặc thời hạn quy định) kể từ khi thu tiền mà vẫn không tìm thấy chủ sở hữu hợp pháp, CMO không được phép tự ý chiếm dụng thành nguồn thu riêng hay biến thành quỹ nội bộ. Thay vào đó, CMO có nghĩa vụ bắt buộc phải lập phương án báo cáo chi tiết gửi cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành để xử lý theo đúng quy định pháp luật. Tình trạng ôm giữ nguồn tiền "vô chủ" để sinh lời hoặc chi dùng sai mục đích chính là ngòi nổ cho những thanh tra, xác minh tài chính trong thời gian tới.
Minh Sơn