Nhiều chính sách ưu đãi thúc đẩy phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal
"Halal" trong tiếng Ả Rập có nghĩa là "được phép" và "Haram" là những điều cấm kỵ. Người Hồi giáo chỉ sử dụng những sản phẩm được Thượng đế (Allah) cho phép và thể hiện sự cho phép là sản phẩm đó được chứng thực Halal theo Kinh Qur'an và Luật Shari'ah của Hồi giáo.
Các sản phẩm Halal bao gồm hầu như tất cả sản phẩm thiết yếu của cuộc sống như thực phẩm, đồ uống, thực phẩm hữu cơ, thực phẩm chức năng, dược phẩm, mỹ phẩm, dệt may, thủ công mỹ nghệ đến lĩnh vực dịch vụ như: ngân hàng, du lịch, an ninh, giáo dục và đào tạo, dịch vụ ăn uống, khách sạn, logistics.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm Halal phân bổ khắp thế giới, từ các nước Hồi giáo đến phi Hồi giáo, từ các nền kinh tế phát triển đến đang phát triển, do các sản phẩm Halal đáp ứng nhiều tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo đảm sức khỏe, chất lượng, xanh, sạch, có đạo đức trong chế biến và góp phần bảo vệ môi trường...
Quy mô nền kinh tế Halal toàn cầu đạt 7000 tỷ USD năm 2022 và dự kiến tăng lên khoảng 10.000 tỷ USD năm 2028 nhờ tăng trưởng quy mô dân số Hồi giáo, mức chi tiêu, sự đa dạng về lĩnh vực và triển vọng tăng trưởng trong tương lai với tốc độ khoảng 6-8%/năm.
Hiện nay, ở Việt Nam tính đến tháng 6/2023, trên cả nước có khoảng 90.000 tín đồ Hồi giáo trong đó Hồi giáo (Islam) có trên 36.000 tín đồ, sinh sống tập trung ở 14 tỉnh, thành phố, trong đó đông nhất tại tỉnh An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, Ninh Thuận.
Đã có 04 tổ chức Hồi giáo (Islam) được Nhà nước công nhận. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam chỉ có khoảng 20 mặt hàng xuất khẩu ở thị trường Halal.
Người Hồi giáo rất thích đi du lịch và thuộc nhóm có chi tiêu cho du lịch ở mức cao trên thế giới.
Du lịch Việt Nam có những thuận lợi về tài nguyên du lịch phong phú, khí hậu phù hợp và sản phẩm du lịch hấp dẫn, đặc biệt là du lịch biển, nghỉ dưỡng cao cấp, phù hợp với nhu cầu của khách du lịch đến từ các nước Hồi giáo.
Tại một số điểm đến du lịch chính của Việt Nam như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương tập trung cộng đồng Hồi giáo cũng đã có một số doanh nghiệp quan tâm và đầu tư cơ sở vật chất, dịch vụ phục vụ du khách theo đạo Hồi. Một số khách sạn đã bố trí các phòng cầu nguyện, thực đơn Halal cho du khách.
Trước xu thế nhu cầu sử dụng, xuất khẩu các sản phẩm, dịch vụ Halal trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ngày càng gia tăng, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định sản phẩm, dịch vụ Halal đang là xu hướng phát triển chung và sẽ phát triển nhanh trong thời gian tới do đảm bảo cung cấp được các sản phẩm tốt hơn cho sức khỏe con người và cho xã hội.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, từ thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu, ban hành Nghị định quản lý sản phẩm, dịch vụ Halal là chủ trương đúng đắn và rất cần thiết của Chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển hệ sinh thái Halal tại Việt Nam, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao phục vụ nhu cầu trong và ngoài nước trong thời gian tới.
Mục đích xây dựng Nghị định quy định về quản lý sản phẩm, dịch vụ Halal nhằm đảm bảo sự phù hợp với chức năng quản lý nhà nước của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực. Quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh và chứng nhận sản phẩm, dịch vụ Halal giúp người tiêu dùng an tâm khi sử dụng, đảm bảo sản phẩm an toàn, chất lượng, được chứng nhận và có thể truy xuất được nguồn gốc.
Theo nội dung dự thảo đang được xin ý kiến, dự thảo nêu rõ, khuyến khích và chỉ đạo các tổ chức tín dụng, quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ xem xét, ưu tiên cung cấp tín dụng, bảo lãnh vay vốn với lãi suất hoặc điều kiện ưu đãi cho các dự án đầu tư dây chuyền, công nghệ sản xuất Halal, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn Halal, chi phí đánh giá chứng nhận Halal lần đầu.
Lồng ghép nội dung hỗ trợ một phần chi phí tư vấn xây dựng hệ thống quản lý đảm bảo Halal, chi phí đánh giá chứng nhận Halal lần đầu vào các Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chương trình khuyến công, Chương trình phát triển khoa học công nghệ quốc gia và địa phương.
Hỗ trợ doanh nghiệp thông qua các chương trình khoa học công nghệ để nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới công nghệ sản xuất, bảo quản sản phẩm Halal; hỗ trợ truy xuất nguồn gốc sản phẩm Halal.
Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, pháp lý và kỹ thuật thông qua việc Nhà nước xây dựng, duy trì và phát triển cơ sở dữ liệu Halal quốc gia bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Cơ sở dữ liệu Halal quốc gia phải được công khai, minh bạch, dễ dàng truy cập, đồng thời cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời.
Bên cạnh đó, dự thảo cũng nêu rõ chính sách hỗ trợ cho tổ chức chứng nhận, tổ chức thử nghiệm. Theo đó, hỗ trợ kinh phí (từ các quỹ phát triển khoa học công nghệ, chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ hoặc các đề án, chương trình chuyên ngành) cho việc đầu tư trang thiết bị thử nghiệm chuyên sâu phục vụ yêu cầu Halal, xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế.
Hỗ trợ chi phí cho việc công nhận theo tiêu chuẩn quốc tế lần đầu đối với các phòng thử nghiệm, tổ chức chứng nhận Halal có tiềm năng và cam kết phục vụ phát triển ngành.
Tạo điều kiện tham gia các chương trình thử nghiệm thành thạo, so sánh liên phòng trong nước và quốc tế.
Hỗ trợ các tổ chức đánh giá sự phù hợp Halal của Việt Nam tham gia các mạng lưới, hiệp hội quốc tế; tìm kiếm cơ hội hợp tác kỹ thuật và thúc đẩy việc ký kết các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về kết quả thử nghiệm, chứng nhận với các tổ chức tương ứng của nước ngoài.
Hỗ trợ kết nối các hộ kinh doanh, hợp tác xã, tổ hợp tác với các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu Halal để hình thành các chuỗi cung ứng nguyên liệu Halal ổn định, có kiểm soát.
Thí điểm và hỗ trợ nhân rộng các mô hình liên kết sản xuất và áp dụng chứng nhận Halal theo nhóm (group certification) cho các hợp tác xã, tổ hợp tác để giảm chi phí và nâng cao khả năng tiếp cận chứng nhận.
Hiện, bạn đọc có thể xem toàn văn sự thảo và góp ý tại đây.
Quỳnh Trang