Nghị định mới về tiền bản quyền trong 6 lĩnh vực văn hóa
Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, thay thế các quy định hiện hành về nhuận bút trong các lĩnh vực này.
Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15, Luật số 93/2025/QH15 và Luật số 131/2025/QH15 được giao tại khoản 4 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ. Các đối tượng áp dụng gồm: Tổ chức, cá nhân sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước; tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý. Cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý trong trường hợp Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan hoặc đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ. Và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến các hoạt động quy định.
Phần trình diễn tại Concert "Tôi yêu Tổ quốc tôi". Ảnh: Internet
Đối với việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý, tiền bản quyền được chi trả trên cơ sở thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện và bên khai thác, sử dụng, phù hợp với quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.
Nghị định quy định tiền bản quyền khuyến khích đối với một số trường hợp như tác phẩm về trẻ em, dân tộc thiểu số; các loại hình nghệ thuật truyền thống có xác định tác giả; giao hưởng, opera, ba lê, xiếc; phóng sự điều tra; tác phẩm dành cho người khuyết tật; hoặc tác giả sáng tạo trực tiếp bằng tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc thiểu số hay trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm theo quy định cụ thể của từng lĩnh vực.
Đối với quyền tác giả, quyền liên quan do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, nếu việc khai thác, sử dụng mang lại lợi nhuận thì tác giả và các chức danh sáng tạo khác được hưởng thêm tiền bản quyền khuyến khích theo thỏa thuận, căn cứ mức đóng góp, nhưng tổng mức không vượt quá 10% lợi nhuận thu được. Việc xác định lợi nhuận được thực hiện theo năm tài chính hoặc theo từng đợt khai thác, sử dụng.
Nghị định cũng quy định nguyên tắc phân chia tiền bản quyền giữa các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu quyền liên quan theo Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn.
rường hợp tác phẩm phái sinh được tạo ra từ một hoặc nhiều tác phẩm có sẵn, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm gốc được hưởng một phần tiền bản quyền từ việc sáng tạo, khai thác hoặc sử dụng tác phẩm phái sinh.
Việc thanh toán tiền bản quyền có thể thực hiện theo nhiều phương thức như thanh toán một lần, theo từng lần khai thác, định kỳ theo tháng, quý, năm hoặc các hình thức khác do các bên thỏa thuận.
Kinh phí chi trả được bố trí từ ngân sách nhà nước, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, nguồn thu từ việc cho phép khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan, nguồn tài trợ và các nguồn hợp pháp khác theo quy định.
Từ Chương II đến Chương VI, Nghị định quy định cụ thể về tiền bản quyền trong từng lĩnh vực gồm điện ảnh, mỹ thuật - nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản. Khi Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, Nghị định số 18/2014/NĐ-CP và Nghị định số 21/2015/NĐ-CP sẽ hết hiệu lực thi hành.
Hương Mi
TIN LIÊN QUAN
-
Thu phí bản quyền nhạc phát tại quán cà phê, nhà hàng từ 1/7: Ai thu? Ai trả? Ai chịu trách nhiệm?
-
Để đơn đăng ký nhãn hiệu, sáng chế không bị 'đánh trượt', cần lưu ý điều gì?
-
Từ 1/7/2026, quán cà phê, nhà hàng mở nhạc phải trả tiền bản quyền theo luật
-
Có thể bảo hộ bản quyền cho công thức nấu ăn không?