Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) và Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) chính thức có hiệu lực với nhiều điểm mới
Những điểm mới của Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi)
Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi) được Quốc hội thông qua từ tháng 12/2025 và có hiệu lực từ 1/4/2026, bổ sung nhiều cơ chế mới nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kiểm soát công nghệ, đồng thời bãi bỏ những quy định không còn phù hợp. Đây là lần sửa đổi, bổ sung lớn cho Luật Chuyển giao công nghệ ra đời năm 2017.
Một trong những bổ sung đáng chú ý là chính sách của Nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN), trong đó thêm điều khoản về hoạt động chuyển giao giữa các cá nhân, tổ chức.
"Khuyến khích tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam nhằm nâng cao năng lực tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ trong nước", khoản 5a, được bổ sung vào Điều 3 của Luật, có đoạn.
Đây cũng là điểm mới so với khoản 5 trước đây, vốn nêu chung về chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam. Ngoài ra, khoản này cũng nhấn mạnh ưu tiên áp dụng chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai, tín dụng cùng các biện pháp khuyến khích khác "đối với dự án đầu tư nước ngoài có nội dung chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hoặc ứng dụng công nghệ tại Việt Nam".
Một thay đổi khác là mở rộng hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tổ chức, cá nhân sở hữu công nghệ có thể dùng chính công nghệ đó để góp vốn vào doanh nghiệp hoặc dự án đầu tư. Nhà nước đồng thời hỗ trợ định giá và xác lập quyền sở hữu đối với các công nghệ hình thành từ nghiên cứu trong nước, tạo thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ "nội sinh" giữa các đơn vị trong nước, thay vì chỉ tập trung vào công nghệ từ nước ngoài.
Một bổ sung tiếp theo là tăng cường vai trò của Nhà nước trong hoạt động chuyển giao công nghệ. Theo đó, luật thêm điều khoản cho Nhà nước mua và phổ biến công nghệ để phục vụ quốc phòng và an ninh, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, dịch bệnh.
Các công nghệ này sau đó được phổ biến lại cho doanh nghiệp dưới nhiều hình thức như miễn phí, ưu đãi hoặc cấp quyền sử dụng có điều kiện; thúc đẩy hợp tác cùng phát triển công nghệ để nâng cao năng lực của tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam.
Luật mới đánh dấu bước điều chỉnh đáng chú ý trong chính sách công nghệ, khi lần đầu đưa khái niệm "công nghệ xanh" vào hệ thống pháp luật. Theo đó, hoạt động chuyển giao công nghệ sạch, công nghệ xanh và công nghệ chiến lược được ưu tiên, cả trong nhập khẩu và phát triển trong nước.
Ở chiều ngược lại, luật cũng siết kiểm soát với công nghệ không phù hợp. Các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường hoặc sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao phải được thẩm định ngay từ giai đoạn chấp thuận chủ trương đầu tư.
Theo cơ quan soạn thảo, những sửa đổi, bổ sung này nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ một cách hiệu quả, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bắt kịp xu thế thế giới.
Những điểm mới của Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi)
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ với những nội dung chủ yếu như: cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ; thúc đẩy khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ; bảo hộ đối tượng mới; xử lý vấn đề mới phát sinh và nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ...
Tư tưởng chính xuyên suốt của Luật là: Sở hữu trí tuệ phải biến kết quả nghiên cứu thành tài sản để có thể giao dịch; phải trở thành tài sản của doanh nghiệp, có thể định giá, mua bán, được hạch toán vào báo cáo tài chính và sử dụng làm tài sản bảo đảm để vay vốn, góp vốn, đặc biệt đối với tài sản công nghệ mới, công nghệ số, AI.
Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy chủ yếu là "bảo vệ quyền" sang "tài sản hóa, thương mại hóa và thị trường hóa" sở hữu trí tuệ, đồng bộ với các luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghệ số, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo.
Về cải cách thủ tục hành chính, Luật quy định chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động đăng ký, thẩm định quyền sở hữu công nghiệp, trong đó có sáng chế. Thời gian thẩm định nội dung sáng chế được rút ngắn từ 18 tháng xuống còn 12 tháng và bổ sung cơ chế thẩm định nhanh trong 3 tháng, thể hiện bước cải cách mạnh mẽ.
Về sản phẩm do AI tạo ra, Luật khẳng định AI không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ. Trường hợp sản phẩm do AI tự động tạo ra, không có sự tham gia của con người, thì không được bảo hộ bản quyền, sáng chế như tác phẩm do con người sáng tạo. Trường hợp con người sử dụng AI như một công cụ để tạo ra sản phẩm và có đóng góp sáng tạo đáng kể (ý tưởng, chỉ đạo, lựa chọn, chỉnh sửa kết quả của AI…), thì có thể được công nhận là tác giả, nhà sáng chế.
Về mở rộng đối tượng bảo hộ, Luật bổ sung khả năng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với sản phẩm phi vật lý nhằm thích ứng với xu thế công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ số; đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết điều kiện bảo hộ đối với loại sản phẩm này.
Luật cũng bổ sung thẩm quyền cho tòa án về sở hữu trí tuệ; bổ sung các chế tài mang tính răn đe, coi hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tương tự hành vi trộm cắp trong thế giới thực, phải được xử lý nghiêm minh.
Đồng thời, tập trung tháo gỡ một trong những "điểm nghẽn" lớn là thủ tục đăng ký quyền sở hữu trí tuệ còn phức tạp, thời gian xử lý kéo dài. Các quy định mới theo hướng cắt giảm thủ tục không cần thiết; rà soát, chuẩn hóa hồ sơ để người nộp đơn dễ thực hiện, hạn chế sai sót; xây dựng cơ chế tiếp nhận, xử lý trực tuyến, tiến tới số hóa toàn bộ quy trình đăng ký.
Vân Mai
TIN LIÊN QUAN
-
Truy tố 14 đối tượng để điều tra hành vi sản xuất thực phẩm chức năng giả tại MediPhar
-
Triệt phá đường dây giết mổ, tiêu thụ gần 300 tấn lợn dịch tại Hà Nội
-
Không tự bảo vệ dữ liệu cá nhân có thể bị phạt tới 70 triệu đồng
-
Tiêu chuẩn môi trường và rào cản pháp lý đối với chủ thể khởi nghiệp du lịch xanh ở Việt Nam hiện nay