Khung tiền bản quyền tác phẩm báo chí phát thanh, truyền hình từ 1/9/2026
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 287/2026/NĐ-CP ngày 17/7/2026 quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, trong đó Điều 16 quy định cụ thể về mức tiền bản quyền đối với tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình.
Khung tiền bản quyền từ 5% đến 10% chi phí sản xuất
Theo Điều 16 Nghị định 287/2026/NĐ-CP, tiền bản quyền đối với tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình do cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý, hoặc tổ chức được phân cấp, ủy quyền theo quy định của pháp luật thỏa thuận với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng.
Mức tiền bản quyền thỏa thuận không thấp hơn khung chi trả được quy định đối với từng thể loại tác phẩm.
Đối với tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, khung chi trả được xác định theo chi phí sản xuất. Cụ thể, nếu chi phí sản xuất đến 10 triệu đồng, tiền bản quyền tối thiểu bằng 10% chi phí sản xuất; từ trên 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, mức tối thiểu là 8%; trên 100 triệu đồng, mức tối thiểu là 5%.
Khung phí bản quyền đối với tác phẩm phát thanh
Khung tỷ lệ này được áp dụng đối với 12 thể loại tác phẩm phát thanh gồm: tin, bài thời sự; chương trình tư vấn; chương trình tọa đàm; chương trình tạp chí; phóng sự; chương trình giao lưu; tiểu phẩm; trò chơi phát thanh; chương trình phát thanh trực tiếp; ca múa nhạc; chương trình khoa giáo và chương trình thiếu nhi.
Đối với truyền hình, tỷ lệ cũng được xác định tương ứng theo ba mức chi phí sản xuất. Chi phí đến 10 triệu đồng áp dụng mức 10%; từ trên 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng áp dụng mức 8%; trên 100 triệu đồng áp dụng mức 5%.
Khung phí bản quyền đối với tác phẩm truyền hình
12 thể loại tác phẩm truyền hình thuộc khung chi trả gồm: tin, bài thời sự; phóng sự; ký sự; phim tài liệu; chương trình tạp chí; tọa đàm; giao lưu; tư vấn; trực tuyến; ca múa nhạc; chương trình khoa giáo và chương trình thiếu nhi.
Như vậy, điểm đáng chú ý là Nghị định 287/2026/NĐ-CP xác lập mức sàn tiền bản quyền dựa trên chi phí sản xuất, thay vì chỉ để các bên tự thỏa thuận hoàn toàn về mức chi trả.
Trường hợp không có doanh thu từ quảng cáo được áp dụng mức 30%
Nghị định cũng quy định trường hợp đặc thù đối với việc khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí phát thanh, truyền hình.
Theo đó, nếu cơ quan báo chí hoạt động phát thanh hoặc hoạt động truyền hình thực hiện khai thác, sử dụng tác phẩm mà không có nguồn thu từ tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào, số tiền bản quyền phải chi trả bằng 30% khung chi trả quy định tại khoản 1 Điều 16.
Quy định này tạo cơ sở xác định mức chi trả trong trường hợp việc khai thác, sử dụng tác phẩm không gắn với nguồn thu từ tài trợ, quảng cáo hoặc các khoản thu khác.
Khai thác từ lần thứ hai, tiền bản quyền được thỏa thuận
Đối với trường hợp một tác phẩm báo chí phát thanh, truyền hình được khai thác, sử dụng từ lần thứ hai trở đi, Nghị định 287/2026/NĐ-CP không áp dụng cứng một tỷ lệ phần trăm chi phí sản xuất.
Theo khoản 3 Điều 16, tiền bản quyền được chi trả theo thỏa thuận với cơ quan đại diện chủ sở hữu, đại diện quản lý hoặc tổ chức được phân cấp, ủy quyền theo quy định của pháp luật.
Việc thỏa thuận được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí như tần suất sử dụng, thời lượng, khung giờ, phương tiện, nền tảng khai thác, sử dụng, doanh thu nếu có, hoặc các tiêu chí khác.
Cách quy định này cho phép mức tiền bản quyền đối với những lần khai thác tiếp theo được xác định phù hợp hơn với thực tế sử dụng tác phẩm, nhất là khi giá trị khai thác có thể thay đổi theo nền tảng, thời điểm, tần suất và khả năng tạo doanh thu.
Quy định mới về khung tiền bản quyền tác phẩm báo chí phát thanh, truyền hình sẽ chính thức có hiệu lực từ 1/9/2026
Một số trường hợp không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền
Nghị định cũng quy định trường hợp khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí phát thanh, truyền hình mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan nhằm mục tiêu tuyên truyền, không nhằm mục đích thương mại.
Cụ thể, đối với hoạt động tuyên truyền dành cho trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, bên khai thác, sử dụng không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền.
Tuy nhiên, bên khai thác, sử dụng vẫn phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.
Đây là quy định mang tính ngoại lệ, được đặt trong phạm vi cụ thể về mục tiêu tuyên truyền không thương mại và đối tượng, địa bàn được Nghị định xác định.
Đối với tiền bản quyền phát sinh từ việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý, việc chi trả được thực hiện theo thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý và bên khai thác, sử dụng.
Việc thỏa thuận phải dựa trên quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan, Nghị định 287/2026/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liên quan.
Tiền bản quyền có thể được thanh toán theo nhiều phương thức
Nghị định 287/2026/NĐ-CP cũng quy định việc trả tiền bản quyền khai thác, sử dụng có thể được thực hiện theo một hoặc một số phương thức.
Các phương thức gồm thanh toán một lần cho toàn bộ việc khai thác, sử dụng; thanh toán theo từng lần khai thác, sử dụng; thanh toán định kỳ theo tháng, quý, năm.
Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận phương thức thanh toán khác, với điều kiện phù hợp với tính chất của việc khai thác, sử dụng và quy định của pháp luật.
Đối với việc phân chia tiền bản quyền giữa các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn và chủ sở hữu quyền liên quan, Nghị định quy định thực hiện theo khoản 3 Điều 12a, các khoản 1, 2 Điều 44a của Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 134/2026/NĐ-CP.
Như vậy, từ ngày 1/9/2026, khi Nghị định 287/2026/NĐ-CP có hiệu lực, việc khai thác, sử dụng tác phẩm báo chí thuộc loại hình phát thanh, truyền hình sẽ có cơ sở cụ thể hơn để xác định tiền bản quyền. Trong đó, khung tối thiểu từ 5% đến 10% chi phí sản xuất là căn cứ quan trọng đối với các trường hợp khai thác, sử dụng thuộc khoản 1 Điều 16, bên cạnh những quy định riêng đối với trường hợp không có doanh thu, khai thác từ lần thứ hai và hoạt động tuyên truyền không nhằm mục đích thương mại.
Thái An
TIN LIÊN QUAN
-
Những quy định mới về khung tiền bản quyền đối với sách từ 1/9
-
Giá trị của việc công bố tác phẩm trong giai đoạn tố tụng: Ra tòa mới đăng tác phẩm lên mạng có kịp không?
-
Nghị định mới về tiền bản quyền trong 6 lĩnh vực văn hóa
-
Thu phí bản quyền nhạc phát tại quán cà phê, nhà hàng từ 1/7: Ai thu? Ai trả? Ai chịu trách nhiệm?