SO HUU TRI TUE
Thứ hai, 07/09/2026
  • Click để copy

Hoàn thiện cơ chế quản lý tập thể quyền tác giả trong kỷ nguyên số: Những vấn đề đặt ra

07:29, 31/08/2026
(SHTT) - Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc cách thức sáng tạo, khai thác và bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan. Trong bối cảnh đó, hoàn thiện cơ chế quản lý tập thể theo hướng minh bạch, chuyên nghiệp và dựa trên dữ liệu là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ chủ thể quyền, giảm chi phí giao dịch và thúc đẩy thị trường nội dung số phát triển lành mạnh.

Khi hoạt động sáng tạo và khai thác nội dung dịch chuyển mạnh mẽ lên môi trường số, một tác phẩm có thể được sử dụng đồng thời trên nhiều nền tảng, ở nhiều quốc gia và dưới nhiều hình thức khác nhau. Quy mô giao dịch ngày càng lớn, tốc độ khai thác ngày càng nhanh, trong khi việc xác định chủ thể quyền, phạm vi ủy quyền và nghĩa vụ thanh toán tiền bản quyền lại trở nên phức tạp hơn.

Trong bối cảnh đó, tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan đứng trước yêu cầu phải đổi mới cả về thể chế, mô hình quản trị và năng lực ứng dụng công nghệ.

Tại Hội thảo “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số, khơi thông điểm nghẽn, phát triển văn hóa số”, ông Quản Tuấn An, đại diện Cục Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đã phân tích những vấn đề đặt ra đối với cơ chế quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan, đồng thời đưa ra nhiều gợi mở đáng chú ý cho quá trình hoàn thiện chính sách trong giai đoạn tới.

hoi-nghi2-1250

  Ông Quản Tuấn An - Cục Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Ảnh: Thế Đại

Khi quản lý quyền không còn có thể dựa vào những phương thức cũ

Quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan là một cơ chế quan trọng, giúp các tác giả và chủ sở hữu quyền thực hiện việc quản lý, khai thác quyền thông qua tổ chức được ủy quyền.

Về bản chất, các tổ chức quản lý tập thể đóng vai trò trung gian giữa chủ thể quyền và người sử dụng. Thay mặt chủ thể quyền, tổ chức có thể theo dõi việc sử dụng tác phẩm, đàm phán cấp phép, thu và phân phối tiền bản quyền. Đối với người sử dụng, cơ chế này giúp đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí và tạo điều kiện tiếp cận nội dung theo một quy trình thuận lợi hơn.

Theo vị đại diện Cục Bản quyền tác giả, Việt Nam hiện có 6 tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Những tổ chức này từng bước góp phần kết nối cộng đồng sáng tạo với các chủ thể có nhu cầu khai thác, sử dụng tác phẩm, qua đó hỗ trợ sự hình thành và phát triển của thị trường quyền tác giả, quyền liên quan.Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của môi trường số đang làm thay đổi căn bản cách thức vận hành của cơ chế này.

Trong môi trường truyền thống, việc xác định một hành vi sử dụng tác phẩm thường có thể dựa vào hợp đồng, chương trình biểu diễn, lịch phát sóng hoặc các hồ sơ, chứng từ tương đối rõ ràng. Nhưng trên không gian số, một tác phẩm âm nhạc có thể xuất hiện cùng lúc trên nhiều nền tảng nghe nhạc, mạng xã hội và dịch vụ chia sẻ video. Một sản phẩm nghe nhìn cũng có thể sử dụng đồng thời nhiều tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình và cuộc biểu diễn thuộc quyền của nhiều chủ thể khác nhau.

Trong khi đó, nội dung báo chí, văn học, hình ảnh hay các sản phẩm sáng tạo khác có thể được sao chép, tổng hợp và phân phối lại chỉ trong một thời gian rất ngắn.

Bởi vậy, quản lý tập thể trong môi trường số không còn đơn thuần là hoạt động quản lý hồ sơ hay giám sát trực tiếp. Hoạt động này ngày càng phụ thuộc vào khả năng nhận diện, theo dõi và đối soát việc sử dụng quyền thông qua dữ liệu và công nghệ.

Dữ liệu về chủ thể quyền, tác phẩm, đối tượng quyền liên quan, phạm vi ủy quyền, giao dịch cấp phép và hoạt động khai thác cần được kết nối, cập nhật thường xuyên và có khả năng đối soát hiệu quả. Đây là nền tảng để việc cấp phép, thu và phân phối tiền bản quyền được thực hiện chính xác, kịp thời và minh bạch hơn.

Minh bạch là điều kiện để thị trường vận hành

Một trong những yêu cầu quan trọng nhất được đặt ra là tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý và khai thác quyền.

Trong một thị trường quyền tác giả lành mạnh, người sử dụng phải có khả năng xác định được tổ chức nào đang quản lý quyền, quyền được quản lý thuộc phạm vi nào, tác phẩm hoặc đối tượng quyền liên quan nào đang được ủy quyền và thời hạn ủy quyền kéo dài bao lâu.

Thông tin về biểu mức và phương thức thanh toán tiền bản quyền cũng cần được công khai, dễ tiếp cận. Khi có đầy đủ thông tin, người sử dụng có thể chủ động lựa chọn phương thức khai thác phù hợp, dự toán chi phí và thực hiện nghĩa vụ thanh toán một cách thuận lợi hơn.

Yêu cầu minh bạch càng trở nên cần thiết khi trên thị trường hiện nay, ngoài các tổ chức quản lý tập thể, chủ thể quyền có thể trực tiếp cấp phép hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện một số hoạt động quản lý, khai thác quyền.

Sự đa dạng của các chủ thể tham gia thị trường là phù hợp với nguyên tắc tự do thỏa thuận và quyền tự định đoạt của chủ thể quyền. Tuy nhiên, điều này cũng làm gia tăng yêu cầu xác minh đối với người sử dụng.

Khi nhận được yêu cầu cấp phép hoặc thanh toán tiền bản quyền từ một tổ chức, cá nhân không phải là chủ sở hữu quyền hoặc tổ chức quản lý tập thể, người sử dụng cần có cơ sở để biết người đó được ai ủy quyền, được ủy quyền đối với quyền nào, tác phẩm nào và trong phạm vi, thời hạn ra sao.

Nếu thiếu một cơ chế thông tin đầy đủ, minh bạch, thị trường có thể phát sinh những chi phí giao dịch không cần thiết. Người sử dụng phải mất nhiều thời gian để xác minh, trong khi nguy cơ chồng lấn trong đại diện, cấp phép hoặc yêu cầu thanh toán đối với cùng một đối tượng quyền cũng có thể gia tăng.

Từ góc độ chính sách, đây là lý do cần tiếp tục nghiên cứu cơ chế nhận diện và quản lý phù hợp đối với các tổ chức, cá nhân thường xuyên thực hiện hoạt động cấp phép, quản lý hoặc thu tiền quyền tác giả, quyền liên quan nhưng không phải là tổ chức quản lý tập thể.

059c3dd4-a579-43dd-9fa1-c21786071fea

Hoàn thiện cơ chế quản lý tập thể theo hướng minh bạch, chuyên nghiệp và dựa trên dữ liệu đang là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ chủ thể quyền, giảm chi phí giao dịch và thúc đẩy thị trường nội dung số phát triển lành mạnh. Ảnh minh họa

Cần tạo đầu mối thuận lợi cho việc thực hiện nghĩa vụ bản quyền

Một vấn đề khác được ông Quản Tuấn An đặt ra là vai trò của cơ chế quản lý tập thể trước những phương thức khai thác có quy mô lớn và liên quan đồng thời đến nhiều loại quyền.

Trong thực tế, người sử dụng có thể có nhu cầu khai thác một số lượng rất lớn tác phẩm hoặc sử dụng một sản phẩm có liên quan đến quyền của nhiều chủ thể khác nhau. Nếu phải xác định và liên hệ riêng với từng chủ thể quyền, chi phí giao dịch có thể trở thành rào cản đáng kể.

Bài toán này ngày càng rõ nét trong môi trường số, đặc biệt khi nhu cầu khai thác văn bản, dữ liệu và các đối tượng quyền cho nghiên cứu khoa học, thử nghiệm hoặc huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo ngày càng mở rộng. Tương tự, việc sử dụng âm nhạc tại nhà hàng, khách sạn, quán cà phê có thể đồng thời liên quan đến quyền của tác giả, người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình.

Trong những trường hợp như vậy, cơ chế quản lý tập thể có thể trở thành một đầu mối giúp người sử dụng thực hiện nghĩa vụ thanh toán thuận lợi hơn. Thay vì phải tìm kiếm và thanh toán cho từng chủ thể quyền, có thể nghiên cứu việc xác định một hoặc một số tổ chức quản lý tập thể làm đầu mối tiếp nhận tiền bản quyền và thực hiện phân phối theo quy định.

Từ đó, tham luận đặt ra hướng nghiên cứu về cơ chế có tính chất tương tự cấp phép tập thể mở rộng, trong đó một tổ chức quản lý tập thể đáp ứng các điều kiện theo quy định có thể thực hiện việc thu và phân phối tiền đối với phạm vi quyền rộng hơn các chủ thể đã trực tiếp ủy quyền.

Đây có thể là một hướng đi đáng nghiên cứu nhằm giảm chi phí giao dịch và khơi thông hoạt động khai thác hợp pháp. Tuy nhiên, vì liên quan trực tiếp đến quyền tự định đoạt của chủ thể quyền, cơ chế này cần được xem xét thận trọng, trên cơ sở đặc điểm cụ thể của từng lĩnh vực và từng phương thức khai thác.

Từ sửa đổi quy định đến xây dựng một khung quản trị hiện đại

Những thay đổi của thị trường đòi hỏi việc hoàn thiện pháp luật không nên dừng ở những điều chỉnh riêng lẻ.

Theo định hướng được đề xuất, khi nghiên cứu xây dựng Luật Bản quyền tác giả, cần hướng tới một khung quản trị toàn diện và thống nhất đối với tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.

Khung pháp lý cần làm rõ địa vị pháp lý, nguyên tắc quản trị, quyền của chủ thể ủy quyền, cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích, quản lý tài chính, thu và phân phối tiền bản quyền, trách nhiệm giải trình, quản trị dữ liệu, hợp tác quốc tế và giải quyết tranh chấp.

Trong đó, trách nhiệm giải trình cần được chuẩn hóa và gắn với cơ chế báo cáo điện tử. Những thông tin quan trọng như phạm vi ủy quyền, danh mục quyền đang quản lý, số tiền đã thu, đã phân phối và chưa phân phối, chi phí quản lý, các khoản tiền chưa xác định được chủ thể quyền, tình hình khiếu nại, tranh chấp cần được theo dõi và báo cáo một cách rõ ràng.

Đặc biệt, quản trị dữ liệu cần được nhìn nhận như một nghĩa vụ pháp lý cốt lõi, thay vì chỉ là vấn đề kỹ thuật nội bộ.

Tổ chức quản lý tập thể phải bảo đảm dữ liệu về chủ thể quyền, tác phẩm, tỷ lệ quyền, phạm vi lãnh thổ, thời hạn ủy quyền, giao dịch cấp phép và kết quả phân phối được quản lý đầy đủ, chính xác, cập nhật và có khả năng truy xuất.

Cùng với đó là những yêu cầu về quyền tiếp cận và kiểm tra dữ liệu của chủ thể quyền, lưu vết thay đổi thông tin, phân quyền truy cập và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.

Trong hoạt động xuyên biên giới, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các thỏa thuận đại diện đối ứng giữa tổ chức quản lý tập thể của Việt Nam và tổ chức quản lý tập thể nước ngoài. Việc chuẩn hóa phạm vi đại diện, trao đổi và xác thực dữ liệu, đối soát, chuyển tiền và xử lý các khoản chưa phân phối sẽ góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi của chủ thể quyền Việt Nam, đồng thời nâng cao tính minh bạch của dòng tiền bản quyền quốc tế.

Hạ tầng dữ liệu sẽ quyết định năng lực quản lý

Ông Quản Tuấn An cho rằng việc hoàn thiện pháp luật là điều kiện cần, nhưng để chính sách đi vào cuộc sống, hạ tầng dữ liệu và năng lực vận hành công nghệ cũng có ý nghĩa quyết định. Theo đó, vị chuyên gia nhấn mạnh cần đẩy nhanh việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu chuyên ngành về quyền tác giả, quyền liên quan. Cơ sở dữ liệu này không chỉ phục vụ hoạt động quản lý nhà nước mà cần từng bước hỗ trợ chủ thể quyền và người sử dụng tra cứu, xác minh quyền.

Việc xây dựng chuẩn dữ liệu thống nhất cho các tổ chức quản lý tập thể cũng cần được quan tâm. Những thông tin như mã định danh tác phẩm, chủ thể quyền, tỷ lệ quyền, mức giá cấp phép, phạm vi lãnh thổ và thời hạn ủy quyền cần được chuẩn hóa, đồng thời hướng tới khả năng tương thích với các chuẩn dữ liệu quốc tế.

Khi dữ liệu được kết nối và đối soát hiệu quả, việc nhận diện một tác phẩm được khai thác trên nhiều nền tảng hoặc tại nhiều quốc gia sẽ thuận lợi hơn. Quan trọng hơn, đây là cơ sở để phát hiện sớm các trường hợp ủy quyền chồng lấn, cấp phép trùng hoặc những sai lệch trong quá trình thu, phân phối tiền bản quyền.

Một hướng đi khác là tăng cường phối hợp giữa các tổ chức quản lý tập thể. Với những hoạt động sử dụng đồng thời nhiều loại quyền, có thể nghiên cứu mô hình “one-stop shop”, tạo một đầu mối thuận lợi hơn cho người sử dụng mà không nhất thiết phải dẫn tới việc hợp nhất các tổ chức.

Cùng với đó, quản lý nhà nước cũng cần chuyển mạnh sang phương thức dựa trên dữ liệu và đánh giá rủi ro. Việc kết hợp báo cáo điện tử, đối soát dữ liệu và kiểm tra tại chỗ sẽ giúp cơ quan quản lý giám sát hiệu quả hơn, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào phương thức báo cáo thủ công.

Xây dựng niềm tin cho thị trường nội dung số

Theo ông Quản Tuấn An, nền tảng quan trọng nhất của quản lý tập thể chính là niềm tin. Chủ thể quyền chỉ sẵn sàng ủy quyền khi tin rằng quyền của mình được quản lý hiệu quả và tiền bản quyền được phân phối công bằng. Người sử dụng cũng chỉ sẵn sàng hợp tác khi họ biết rõ mình đang trả tiền cho quyền gì, dựa trên căn cứ nào và khoản tiền đó được quản lý ra sao.

Vì thế, hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan không chỉ là câu chuyện sửa đổi quy định về một nhóm chủ thể trên thị trường. Xa hơn, đây là quá trình xây dựng hạ tầng thể chế và hạ tầng dữ liệu cho thị trường nội dung số. Một cơ chế quản lý tập thể hiện đại, minh bạch và dựa trên công nghệ sẽ giúp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất và các chủ thể quyền. Đồng thời, cơ chế này cũng góp phần giảm chi phí giao dịch, tạo thuận lợi cho việc khai thác nội dung hợp pháp và khuyến khích đầu tư vào sáng tạo. Đó là điều kiện quan trọng để thị trường quyền tác giả, quyền liên quan vận hành hiệu quả hơn, trở thành động lực cho phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và văn hóa số trong giai đoạn mới.

Thái An

Tin khác

(SHTT) - Có những sản phẩm được tạo nên từ công nghệ. Có những sản phẩm được hình thành từ kinh nghiệm. Và cũng có những sản phẩm bắt đầu từ một ký ức rất nhỏ của đời sống. Trà Ngói của Thăng Long Chè Việt ra đời từ một mảnh ngói cũ, một mẻ trà nhỏ và mong muốn tìm lại sự giao cảm giữa đất, lửa và đôi bàn tay người làm trà Việt.
Tài sản trí tuệ 5 giờ trước
(SHTT) - Kem chống nắng Anthelios UVMune 400 Fluide Oil Control bị thu hồi tại thị trường châu Âu do chỉ số chống nắng (SPF) thực tế thấp hơn nhiều so với mức công bố, trong đó có sản phẩm được kiểm nghiệm có SPF bằng 0. Cơ quan chức năng Việt Nam khuyến cáo người tiêu dùng chủ động kiểm tra, ngừng sử dụng nếu phát hiện sản phẩm thuộc diện cảnh báo.
Tài sản trí tuệ 10 giờ trước
(SHTT) - Ngành game Việt Nam đang mở rộng nhanh trên thị trường quốc tế, tạo ra giá trị kinh tế và lan tỏa văn hóa. Tuy nhiên, cùng với tốc độ tăng trưởng là nguy cơ sao chép, đánh cắp mã nguồn, phát hành game lậu và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặt yêu cầu cấp thiết về một hệ sinh thái bảo vệ bản quyền hiệu quả.
Tài sản trí tuệ 1 ngày trước
(SHTT) - Công ty Vitruvias Therapeutics đang tự nguyện thu hồi một lô Thyroid Tablets, USP 30 mg tại Mỹ sau khi kiểm nghiệm phát hiện hàm lượng thuốc cao hơn mức công bố trên nhãn, tiềm ẩn nguy cơ gây cường giáp và ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng.
Tài sản trí tuệ 1 ngày trước
(SHTT) - Kiểm tra một cơ sở kinh doanh tại xã Sóc Sơn, lực lượng Quản lý thị trường Hà Nội phát hiện hơn 117.000 sản phẩm mỹ phẩm cùng nhiều hàng hóa khác không có hóa đơn, chứng từ. Đáng chú ý, số hàng hóa này có tới hơn 93.000 sản phẩm keo, xịt tóc mang nhãn hiệu Make Sense.