SO HUU TRI TUE
Thứ tư, 14/10/2026
  • Click để copy

Đừng bắt doanh nhân vỡ nợ phải trả tiền để được quyền phá sản chính thức

16:02, 08/09/2026
(SHTT) - Một doanh nghiệp thất bại không nên biến thành gánh nặng kéo dài đối với người sáng lập. Một hệ sinh thái khởi nghiệp trưởng thành cần cho phép doanh nghiệp thất bại có trật tự, chi phí hợp lý và trao cơ hội để doanh nhân trở lại.

Cách một quốc gia đối xử với doanh nghiệp thất bại chính là phép thử trung thực nhất đối với hệ sinh thái khởi nghiệp. Chúng ta đang nói rất nhiều về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, startup, vốn đầu tư, vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo và những câu chuyện doanh nghiệp tăng trưởng thần tốc.

Nhưng có một câu hỏi ít được đặt ra: điều gì xảy ra với một doanh nhân khi doanh nghiệp của họ thất bại? Nếu câu trả lời là họ phải tự tìm lại chứng từ, khôi phục hồ sơ, xử lý các nghĩa vụ tồn đọng, trả tiền phạt, thuê dịch vụ và tiếp tục bỏ tiền ra cho đến khi được phép chính thức đóng cửa, thì chúng ta cần nghiêm túc suy nghĩ lại về cách mình đang xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp. Những phản ánh liên tiếp trên VnExpress, Thanh Niên và Tuổi Trẻ cho thấy đây không còn là câu chuyện của một vài trường hợp cá biệt.

Có những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ nhiều năm trước, không còn doanh thu, không còn nhân viên, không còn văn phòng, thậm chí mất sổ sách kế toán, chứng từ hoặc con dấu. Thế nhưng để chính thức chấm dứt sự tồn tại pháp lý, doanh nghiệp vẫn phải đi qua một quá trình thủ tục có thể kéo dài, phải bổ sung hồ sơ, kê khai, giải trình và xử lý các nghĩa vụ liên quan.

Báo chí đã phản ánh những trường hợp doanh nghiệp “đắp chiếu” nhiều năm nhưng khi muốn giải thể phải bỏ ra hàng chục triệu, thậm chí gần 100 triệu đồng để xử lý các thủ tục tồn đọng. Đây là một nghịch lý rất đáng suy nghĩ: doanh nghiệp không còn hoạt động, không tạo ra doanh thu, không có lợi nhuận, thậm chí không còn tiền mặt, nhưng vẫn phải tiếp tục tiêu tiền để được chính thức đóng cửa.

Đáng nói hơn, nếu doanh nghiệp không còn tiền thì sao? Họ không thể hoàn tất việc giải thể. Doanh nghiệp tiếp tục nằm đó, người đại diện pháp luật tiếp tục lo lắng, cơ quan quản lý tiếp tục phải theo dõi, còn một nguồn lực xã hội đáng lẽ đã được giải phóng lại tiếp tục bị treo. Như vậy, vấn đề không chỉ nằm ở một bộ hồ sơ hay một thủ tục hành chính cụ thể. Nó liên quan đến cách chúng ta thiết kế toàn bộ vòng đời của doanh nghiệp. Một nền kinh tế năng động không thể chỉ quan tâm đến việc doanh nghiệp được thành lập như thế nào mà phải quan tâm cả đến việc doanh nghiệp gặp khó khăn ra sao, được phục hồi thế nào và nếu không thể tồn tại thì được rời khỏi thị trường như thế nào.

1788855551270_2429867651837808678_2429867651837808678_h

 

Kinh tế thị trường có một quy luật rất đơn giản: có doanh nghiệp ra đời thì cũng phải có doanh nghiệp rời khỏi thị trường. Không phải doanh nghiệp nào cũng thành công, không phải startup nào cũng gọi được vốn, không phải sản phẩm nào cũng tìm được thị trường và không phải founder nào cũng xây dựng được một mô hình kinh doanh bền vững. Thất bại là một phần tự nhiên của quá trình thử nghiệm kinh doanh. Điều quan trọng là phải phân biệt rất rõ: doanh nghiệp thất bại không đồng nghĩa với doanh nhân thất bại. Một doanh nghiệp có thể thất bại vì thị trường thay đổi, mô hình kinh doanh sai, thiếu vốn, chọn sai thời điểm hoặc gặp một cú sốc mà founder không thể kiểm soát.

Một sáng lập thất bại lần thứ nhất thường có một loại tài sản đặc biệt mà bảng cân đối kế toán không thể hiện: đó là kinh nghiệm. Họ đã hiểu khách hàng hơn, hiểu thị trường hơn, hiểu dòng tiền hơn, hiểu quản trị hơn và quan trọng nhất là hiểu những gì không nên làm trong lần khởi nghiệp tiếp theo. Họ có thể trở thành một  sáng lập  tốt hơn ở lần thứ hai, một cố vấn tốt hơn, một nhà đầu tư thiên thần tốt hơn hoặc một chuyên gia giàu kinh nghiệm hơn cho hệ sinh thái hay đơn giản họ là một người lao động có kinh nghiệm khởi nghiệp trong các startup tương lai.  Vì vậy, khi một doanh nghiệp thất bại, nếu chúng ta chỉ nhìn thấy một pháp nhân phải đóng cửa thì chúng ta đang bỏ qua một tài sản rất quan trọng: vốn con người của hệ sinh thái khởi nghiệp.

Nếu muốn người dân mạnh dạn khởi nghiệp, chúng ta phải cho họ quyền được thất bại một cách có trật tự. Không thể chỉ nói với người dân rằng “hãy mạnh dạn khởi nghiệp” nhưng không nói rằng “nếu doanh nghiệp không thành công, chúng tôi sẽ giúp anh rời khỏi thị trường một cách văn minh, nhanh chóng và với chi phí hợp lý”. Nếu thành lập doanh nghiệp tương đối dễ nhưng đóng cửa doanh nghiệp lại quá khó, hệ thống sẽ tạo ra một rủi ro bất đối xứng: gia nhập thị trường thì dễ nhưng rời khỏi thị trường thì khó. Khi đó, một người đang có ý tưởng kinh doanh có thể không chỉ hỏi “Tôi có thành công không?” mà còn phải nghĩ “Nếu thất bại thì tôi có thoát ra được không?”.

Điều này đặc biệt đáng lo đối với startup và doanh nghiệp siêu nhỏ. Phần lớn những doanh nghiệp này không có phòng pháp chế, không có kế toán trưởng, không có luật sư thường trực và cũng không có nguồn tiền dự phòng lớn. Founder thường phải đồng thời làm sản phẩm, bán hàng, quản lý nhân sự và quản lý tài chính. Khi doanh nghiệp thất bại, rất có thể chính founder cũng đã cạn tiền. Nếu ngay lúc đó hệ thống lại yêu cầu họ tiếp tục bỏ thêm một khoản tiền lớn để xử lý các thủ tục tồn đọng, chúng ta đang đặt một gánh nặng rất lớn lên chính nhóm doanh nghiệp mà chính sách khởi nghiệp muốn khuyến khích.

Tác giả cho rằng cần nhìn nhận lại toàn bộ vấn đề dưới góc độ chi phí rời khỏi thị trường. Một doanh nghiệp lớn với hàng nghìn lao động, hàng trăm hợp đồng, tài sản lớn và hệ thống kế toán phức tạp tất nhiên phải có một quy trình giải thể chặt chẽ. Nhưng một startup được thành lập với nguồn vốn nhỏ, chưa phát sinh hoạt động đáng kể, không có lao động, không có tài sản, không có tranh chấp và đã ngừng hoạt động nhiều năm thì không thể áp dụng một cách máy móc cùng một tầng thủ tục. Chính sách cần dựa trên mức độ rủi ro thực tế. Doanh nghiệp có rủi ro thuế cao thì kiểm tra sâu; doanh nghiệp không phát sinh hoạt động thực tế thì cần một cơ chế rút gọn.

Vì vậy, Việt Nam cần nghiên cứu một cơ chế rút lui đơn giản khỏi thị trường – Simplified Business Exit dành cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và startup không phát sinh hoạt động thực tế. Nếu dữ liệu của cơ quan quản lý đã cho phép xác định doanh nghiệp không có doanh thu, không có lao động, không có hóa đơn, không có nợ và không có tranh chấp thì cơ quan nhà nước nên tăng cường cơ chế đối soát dữ liệu thay vì buộc doanh nghiệp phải tự đi tìm lại những thông tin mà hệ thống quản lý đã có. Đồng thời, cần có thời hạn xử lý rõ ràng và một cơ chế phân loại rủi ro để doanh nghiệp không bị treo vô thời hạn chỉ vì một thủ tục chưa hoàn tất.

Nhưng vấn đề sâu xa hơn câu chuyện giải thể là chúng ta đang hiểu “hỗ trợ khởi nghiệp” như thế nào. Hiện nay, chuỗi hỗ trợ thường được hình dung là: ý tưởng, ươm tạo, thành lập startup, gọi vốn, tăng trưởng và mở rộng. Nhưng đó mới chỉ là nửa đầu của vòng đời doanh nghiệp. Một hệ sinh thái trưởng thành phải có cả chuỗi thứ hai: thất bại, phục hồi, tái cấu trúc, rút lui, học hỏi và khởi nghiệp lại. Nói cách khác, vòng đời đầy đủ phải là START → GROW → CRISIS → EXIT → RESTART. Trong chuỗi đó, EXIT không phải là dấu chấm hết. EXIT là một giai đoạn bình thường trong vòng đời của doanh nghiệp và có thể trở thành điểm khởi đầu cho một hành trình mới của doanh nhân.

Tôi đặc biệt cho rằng cần đưa tư duy Second Chance – Cơ hội thứ hai vào chính sách hỗ trợ doanh nhân. Một phần nguồn lực của hệ sinh thái khởi nghiệp có thể được sử dụng để tư vấn tái cấu trúc cho doanh nghiệp còn khả năng phục hồi, hỗ trợ thủ tục exit cho doanh nghiệp không còn khả năng tồn tại, tư vấn pháp lý, xử lý tài sản và sở hữu trí tuệ, đào tạo lại founder và quan trọng nhất là tạo điều kiện để những doanh nhân có năng lực được khởi nghiệp lần thứ hai. Đây không phải là “thưởng cho thất bại”. Ngược lại, đó là cách giảm chi phí xã hội của thất bại và biến những bài học đã trả giá bằng tiền bạc, thời gian và công sức thành vốn kinh nghiệm cho nền kinh tế.

Một hệ sinh thái khởi nghiệp tốt không nên chỉ đo bằng số lượng doanh nghiệp được thành lập. Hãy thử hình dung 100 startup được thành lập, một số tăng trưởng mạnh, một số duy trì được hoạt động, một số thất bại. Nếu trong nhóm thất bại đó có những founder tiếp tục khởi nghiệp lần thứ hai, một số trở thành mentor, một số trở thành nhà đầu tư và một số trở thành chuyên gia trong hệ sinh thái thì 100 startup ban đầu vẫn tạo ra giá trị vượt xa số doanh nghiệp còn tồn tại. Khi đó, thất bại của một doanh nghiệp không còn đồng nghĩa với sự mất mát hoàn toàn của hệ thống. Kinh nghiệm, con người, tri thức, mạng lưới và thậm chí cả tài sản của doanh nghiệp có thể tiếp tục được tái sử dụng.

Đó cũng là lý do tôi cho rằng cách một quốc gia đối xử với doanh nhân sau thất bại chính là một bài kiểm tra rất trung thực về mức độ trưởng thành của hệ sinh thái khởi nghiệp. Một hệ sinh thái trưởng thành không phải là nơi không có doanh nghiệp phá sản. Ngược lại, đó là nơi doanh nghiệp có thể thất bại mà không bị biến thất bại kinh doanh thành một “bản án hành chính” kéo dài nhiều năm. Doanh nghiệp không còn khả năng tồn tại phải được phép rời thị trường một cách minh bạch, nhanh chóng và phù hợp với mức độ rủi ro; còn doanh nhân phải được trao cơ hội học hỏi và quay trở lại thị trường nếu họ có năng lực và khát vọng.

Vì vậy, câu hỏi chính sách không nên chỉ là “Làm thế nào để giải thể doanh nghiệp?” mà phải là “Làm thế nào để xây dựng một cơ chế vòng đời doanh nhân hoàn chỉnh?” Cơ chế đó phải bao gồm hỗ trợ trước khi khởi nghiệp, hỗ trợ thành lập, hỗ trợ tăng trưởng, hỗ trợ khi khủng hoảng, cơ chế rút lui và cơ hội khởi nghiệp lần thứ hai. Khi đó, Nhà nước không phải cứu tất cả các doanh nghiệp bằng mọi giá. Doanh nghiệp nào không còn khả năng sống thì phải được rời thị trường. Nhưng người doanh nhân thì không nên bị bỏ lại phía sau.

Cuối cùng, hãy đặt ra một câu hỏi rất đơn giản: Nếu một người đã mất hết tiền vì khởi nghiệp thất bại, chúng ta muốn người đó tiếp tục trở thành một doanh nhân lần nữa, hay muốn họ thề rằng sẽ không bao giờ thành lập doanh nghiệp nữa? Câu trả lời cho câu hỏi đó chính là bản chất thật sự của chính sách hỗ trợ khởi nghiệp. Nếu chúng ta muốn Việt Nam có một thế hệ doanh nhân dám nghĩ, dám làm và dám đổi mới, thì chúng ta cũng phải xây dựng một hệ thống cho phép họ dám thất bại, dám đứng dậy và dám khởi nghiệp lại. Bởi một nền kinh tế mạnh không phải là nền kinh tế không có thất bại, mà là nền kinh tế biết biến thất bại thành năng lực cho lần thành công tiếp theo.

Ths Vũ Tuấn Anh

Chuyên gia đào tạo cố vấn khởi nghiệp

Tác giả sách “ Khởi Nghiệp Ngay - Sạt Nghiệp Luôn”

Tin khác

Kinh tế 6 giờ trước
(SHTT) - Đội Quản lý thị trường số 3 tại TP Đà Nẵng vừa phát hiện, tạm giữ nhiều sản phẩm thời trang có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu tại một hộ kinh doanh trên đường Lê Duẩn.
Kinh tế 1 ngày trước
(SHTT) - Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và chuyển đổi số, văn hóa doanh nghiệp không chỉ định hình phong cách quản trị mà còn là chất xúc tác trực tiếp thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, tạo dựng bản sắc thương hiệu và gia tăng giá trị tài sản vô hình cho doanh nghiệp.
Kinh tế 2 ngày trước
(SHTT) - Trong phát triển du lịch, chúng ta thường tập trung quảng bá điểm đến, tổ chức sự kiện, xây dựng sản phẩm và thu hút khách. Nhưng có một câu hỏi mang tính chiến lược hơn: Làm thế nào để đồng hành cùng du khách trong toàn bộ hành trình, từ khi họ bắt đầu tìm kiếm thông tin cho đến khi trở về nhà, đồng thời gia tăng giá trị kinh tế cho địa phương?
Kinh tế 3 ngày trước
(SHTT) - Tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, phát triển vật liệu sinh học hay đưa tổ yến, nha đam vào mỹ phẩm, nhiều dự án đang tìm cách tạo giá trị gia tăng từ nguồn tài nguyên sẵn có.
Kinh tế 3 ngày trước
(SHTT) - Thị trường ô tô Việt Nam tháng 9 ghi nhận sự hồi phục nhẹ về sức mua sau giai đoạn thấp điểm. Dù vậy, nhiều mẫu xe vẫn ghi nhận mức tiêu thụ tương đối khiêm tốn. Trong đó, Isuzu mu-X tiếp tục đứng cuối danh sách với doanh số vỏn vẹn 4 xe, còn Toyota trở thành thương hiệu có nhiều đại diện nhất góp mặt trong nhóm bán chậm.