SO HUU TRI TUE
Chủ nhật, 11/10/2026
  • Click để copy

Dịch vụ SHTT tiếp tục thuộc phạm vi dịch vụ KH, CN & ĐMST theo Luật số 93/2025/QH15

16:37, 14/09/2026
(SHTT) - Ông Thái Quang Minh, Trưởng nhóm Sáng chế, Công ty TNHH Luật ALIAT mới đây đã gửi thông tin đóng góp với góc nhìn bao quát gửi tới Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo liên quan đến vấn đề thuế dịch vụ sở hữu trí tuệ đang được VIPA xin ý kiến.
thai quang minh

 

1. Bối cảnh

Trước ngày 01/10/2025, các tổ chức dịch vụ SHTT, bao gồm tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp và tổ chức tư vấn SHTT, áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% đối với doanh thu từ dịch vụ SHTT. Cơ sở pháp lý là quy định về dịch vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) tại Khoản 10 Điều 3 Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 (sau đây gọi là "Luật 2013"), kết hợp với các quy định về thuế suất GTGT ưu đãi đối với dịch vụ KH&CN. Mức thuế suất này đã được áp dụng ổn định trong hơn hai thập kỷ và được các Cục Thuế địa phương hướng dẫn bằng văn bản.

Kể từ ngày 01/10/2025, Luật Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 (sau đây gọi là "Luật 2025") có hiệu lực, thay thế Luật 2013. Luật 2025 điều chỉnh cấu trúc các thuật ngữ định nghĩa, trong đó thay thế định nghĩa tại Khoản 10 Điều 3 Luật 2013 bằng hệ thống định nghĩa mới tại Khoản 12 và Khoản 13 Điều 3 Luật 2025.

Sau khi Luật 2025 có hiệu lực, một số cơ quan thuế địa phương, khi tiến hành kiểm tra quyết toán thuế, đã cho rằng dịch vụ SHTT không còn thuộc phạm vi "dịch vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo" theo Luật 2025, từ đó yêu cầu áp thuế suất GTGT 10% thay vì 5% và truy thu thuế đối với hóa đơn đã xuất từ quý IV/20251234.

Cơ sở của quan điểm trên là sự vắng mặt của cụm từ liệt kê chi tiết "hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ" trong định nghĩa dịch vụ KH, CN & ĐMST tại Khoản 12 Điều 3 Luật 2025 - được gọi là "khoảng trống dẫn chiếu kỹ thuật".

Phân tích dưới đây chứng minh rằng quan điểm nói trên không có căn cứ pháp lý đầy đủ.

2. Cơ sở quy phạm

Khoản 10 Điều 3 Luật 2013 quy định:

"Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội."

Khoản 12 và 13 Điều 3 Luật 2025 quy định:

"12. Dịch vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động đổi mới sáng tạo, hoạt động khởi nghiệp sáng tạo."

"13. Hỗ trợ đổi mới sáng tạo là hoạt động cung cấp nguồn lực, dịch vụ cho đổi mới sáng tạo, bao gồm: sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, hạ tầng kỹ thuật, không gian làm việc, pháp lý, thông tin thị trường, tài chính, thương mại, truyền thông, kết nối đầu tư và hỗ trợ cần thiết khác."

3. Phân tích

3.1. Đối chiếu cấu trúc kế thừa giữa Luật 2013 và Luật 2025

Khoản 10 Điều 3 Luật 2013 sử dụng kỹ thuật liệt kê ngang trong một điều khoản duy nhất, gồm ba nhóm nội dung: (i) hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho nghiên cứu KH&PT công nghệ; (ii) hoạt động liên quan đến SHTT, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và các lĩnh vực kỹ thuật chuyên ngành; (iii) dịch vụ thông tin, tư vấn, đào tạo, phổ biến, ứng dụng thành tựu KH&CN.

Trong khi đó, Điều 3 Luật 2025 tái cấu trúc nội dung tương đương thành hệ thống hai tầng bao gồm: Khoản 12 thiết lập định nghĩa khung, Khoản 13 cụ thể hóa nội hàm thành phần. Mối quan hệ kế thừa được thể hiện theo bảng sau:

Khoản 10  Điều  3  Luật

2013

Vị trí tương ứng trong Điều 3 Luật 2025

 

Ghi chú

Phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho nghiên cứu KH&PT công nghệ

Khoản 12: "phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động KH&CN"

Kế thừa nguyên nội dung

Sở hữu trí tuệ

Khoản 13: vị trí đầu tiên trong danh mục

Được giữ lại và nâng vị trí

Chuyển giao công nghệ

Bao hàm trong phạm vi hoạt động KH&CN và ĐMST

Kế thừa ở cấp khái niệm

Khoản 10  Điều  3  Luật

2013

Vị trí tương ứng trong Điều 3 Luật 2025

Ghi chú

Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng

Khoản 13: liệt kê đích danh

Kế thừa nguyên văn

Thông tin, tư vấn

Khoản 13: "thông tin thị trường", "pháp lý"

Mở rộng và cụ thể hóa

(Không có)

Khoản 13: "không gian làm việc, tài chính, thương mại, truyền thông, kết nối đầu tư"

Bổ sung mới

Bảng đối chiếu nêu trên cho thấy ba đặc điểm: (a) toàn bộ nội dung cốt lõi của Khoản 10 Điều 3 Luật 2013 được kế thừa trong Khoản 12 và 13 Điều 3 Luật 2025, không có nội dung nào bị loại bỏ; (b) Luật 2025 bổ sung thêm nhiều nội dung mới và sử dụng danh mục mở, chứng tỏ ý chí lập pháp là mở rộng phạm vi; (c) SHTT không những được giữ lại mà còn được đặt ở vị trí đầu tiên trong danh mục Khoản 13.

3.2. Luật 2025 không loại trừ dịch vụ SHTT mà chỉ thay đổi kỹ thuật lập pháp

Sự khác biệt giữa hai Luật nằm ở kỹ thuật soạn thảo, không phải ở chính sách pháp luật. Luật 2013 liệt kê trực tiếp các hoạt động cấu thành dịch vụ KH&CN trong một khoản duy nhất, trong khi đó Luật 2025 chuyển sang kỹ thuật lập pháp hai tầng: định nghĩa khung (Khoản 12) kết hợp cụ thể hóa (Khoản 13). Sự thay đổi về kỹ thuật lập pháp không đồng nghĩa với sự thay đổi về phạm vi điều chỉnh. Việc không lặp lại một cụm từ liệt kê cũ trong cùng một khoản không phải là hành vi loại trừ, trừ khi có quy định chuyển tiếp hoặc điều khoản nêu rõ việc loại trừ này, tuy nhiên Luật 2025 không có điều khoản nào như vậy.

Nói cách khác, cái gọi là "khoảng trống dẫn chiếu kỹ thuật" thực chất là sự dịch chuyển vị trí pháp lý của cùng một nội dung về "sở hữu trí tuệ", trong đó nội dung này đã chuyển từ vị trí liệt kê ngang trong Khoản 10 Điều 3 Luật 2013 sang vị trí đích danh trong Khoản 13 Điều 3 Luật 2025.

3.3. SHTT nằm trong chuỗi logic dẫn chiếu từ Khoản 12 qua Khoản 13 Điều 3 Luật 2025

Khoản 12 quy định dịch vụ KH, CN& ĐMST bao gồm hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động đổi mới sáng tạo. Khoản 13 định nghĩa hỗ trợ đổi mới sáng tạo là hoạt động cung cấp nguồn lực, dịch vụ cho đổi mới sáng tạo, liệt kê SHTT ở vị trí đầu tiên trong danh mục. Hai Khoản có quan hệ khung - chi tiết, do đó khi diễn giải kết hợp tạo thành chuỗi suy luận khép kín:

Tiền đề lớn: Dịch vụ KH, CN & ĐMST bao gồm hoạt động phục vụ, hỗ trợ cho hoạt động đổi mới sáng tạo (Khoản 12).

Tiền đề nhỏ: Hỗ trợ đổi mới sáng tạo bao gồm cung cấp dịch vụ SHTT (Khoản 13).

Căn cứ vào điều này, hoàn toàn có thể đi đến kết luận: Dịch vụ SHTT thuộc phạm vi Dịch vụ KH, CN & ĐMST.

3.4. "Khoảng trống dẫn chiếu kỹ thuật" không phải căn cứ pháp lý để thay đổi thuế suất

Nguyên tắc giải thích pháp luật đòi hỏi rằng khi văn bản quy phạm không rõ ràng loại trừ một nội dung đã thuộc phạm vi điều chỉnh trước đó, thì không thể suy diễn việc loại trừ từ sự thiếu vắng của nội dung này của văn bản. Luật 2025 không có điều khoản nào tuyên bố rằng dịch vụ SHTT không còn thuộc phạm vi dịch vụ KH, CN & ĐMST. Ngược lại, Luật 2025 còn đặt SHTT ở vị trí nổi bật hơn, đích danh trong Khoản 13 Điều 3 so với cách liệt kê chung của Luật 2013.

Việc suy diễn loại trừ từ sự thay đổi kỹ thuật lập pháp, trong khi chính văn bản mới vẫn ghi nhận rõ ràng nội dung đó, là trái với:

Nguyên tắc giải thích hệ thống (systematic interpretation5): các khoản trong cùng một điều luật cần được đọc kết hợp với nhau, không tách rời.

Nguyên tắc giải thích phù hợp mục đích ban hành (purpose rule6): cách giải thích phải phù hợp với mục tiêu mà Luật hướng tới.

3.5. Phù hợp với mục tiêu lập pháp và định hướng chính sách và thông lệ quốc tế

3.5.1. Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Dịch vụ SHTT đóng vai trò thiết yếu trong chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo, bao gồm: bảo hộ kết quả nghiên cứu, tạo tài sản vô hình có khả năng thương mại hóa, và thu hồi đầu tư cho hoạt động nghiên cứu phát triển. Trong bối cảnh kinh tế tri thức, việc bảo hộ kịp thời và hiệu quả các kết quả đổi mới sáng tạo dưới hình thức quyền SHTT là điều kiện tiên quyết để thương mại hóa, do đó dịch vụ SHTT có vai trò không thể tách rời khỏi hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Ngày 17/6/2026, tức là sau khi Luật 2025 đã có hiệu lực, Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng đã ban hành Kết luận số 51-KL/TW "về đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới" (sau đây gọi là "Kết luận 51"). Đây là văn bản chỉ đạo chính trị ở cấp cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, có giá trị định hướng cho toàn bộ hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp liên quan đến SHTT.

Thứ nhất, về vị trí chiến lược của SHTT, Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ trọng tâm:

"2.1. Thống nhất nhận thức về vai trò chiến lược của sở hữu trí tuệ, quán triệt sâu sắc quan điểm quyền sở hữu trí tuệ là nguồn lực quan trọng của quốc gia. Tạo lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực tăng trưởng bền vững và bảo vệ tương lai phát triển của đất nước. Chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính về sở hữu trí tuệ sang kiến tạo hệ sinh thái sở hữu trí tuệ. Đưa nội dung sở hữu trí tuệ trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia, chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp chiến lược và chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao."

Với cách định vị này, SHTT không phải là một hoạt động hành chính hay dịch vụ thương mại thông thường, mà là thành tố chiến lược của phát triển quốc gia, một thành phần quan trọng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Thuật ngữ "hệ sinh thái sở hữu trí tuệ" tương thích hoàn toàn với cấu trúc Khoản 12 và Khoản 13 Điều 3 Luật 2025, nơi dịch vụ SHTT được đặt trong hệ sinh thái hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Việc cơ quan thuế thu hẹp phạm vi dịch vụ SHTT thông qua diễn giải kỹ thuật, thực chất là đang đi ngược lại chỉ đạo "kiến tạo hệ sinh thái", quay về tư duy quản lý hành chính mà Bộ Chính trị yêu cầu chuyển đổi.

Thứ hai, về khai thác SHTT như tài sản kinh tế, Kết luận 51 chỉ đạo:

"2.3. Phát triển thị trường quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy thương mại hoá kết quả nghiên cứu; bảo đảm phát huy hiệu quả, nâng cao khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu trong thực tế sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội; gắn kết quả nghiên cứu khoa học với nhu cầu của thị trường và yêu cầu phát triển đất nước. Hoàn thiện cơ chế định giá quyền sở hữu trí tuệ; xây dựng thị trường công nghệ hiện đại, đẩy mạnh khai thác quyền sở hữu trí tuệ như một loại tài sản có giá trị trong huy động vốn, đầu tư, góp vốn và phát triển doanh nghiệp. Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh lâu dài, tăng cường đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu và phát triển công nghệ nhằm bảo đảm năng lực sở hữu trí tuệ để phát triển nhanh và bền vững. Ban hành Chương trình quốc gia về phát triển sở hữu trí tuệ."

Tất cả các hoạt động nêu trên đều cần đến dịch vụ SHTT chuyên nghiệp, từ đánh giá, định giá tài sản trí tuệ đến tư vấn chuyển giao, li-xăng, góp vốn bằng quyền SHTT. Tăng gánh nặng thuế lên chính dịch vụ hỗ trợ các hoạt động mà Bộ Chính trị yêu cầu đẩy mạnh là mâu thuẫn nội tại trong chính sách.

3.5.2. Thông lệ quốc tế

Các nhận định trên không chỉ phản ánh thực tiễn Việt Nam mà còn được khẳng định nhất quán bởi các tổ chức quốc tế hàng đầu về SHTT và đổi mới sáng tạo.

Tổ chức Sở hũu trí tuệ Thế giới (WIPO) chỉ ra rằng tiến bộ công nghệ và các đổi mới kinh doanh đã thúc đẩy sự hình thành của các chuỗi giá trị toàn cầu, làm cho các tài sản vô hình từ đổi mới sáng tạo đóng vai trò quyết định đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Để chiếm lĩnh giá trị từ các khoản đầu tư R&D, doanh nghiệp dựa vào quyền SHTT, như bằng sáng chế hoặc bí mật kinh doanh, để bảo vệ tri thức độc quyền và hạn chế rủi ro rò rỉ công nghệ. Đối với các ngành công nghệ phức tạp, các dịch vụ và thỏa thuận cấp phép chéo (cross-licensing) tạo cơ sở để các bên đàm phán quyền sử dụng sáng chế của nhau, từ đó thương mại hóa các sản phẩm đổi mới sáng tạo7.

Bên cạnh đó, Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu (Global Innovation Index - GII) do WIPO công bố hằng năm đưa các chỉ số về đăng ký sáng chế, bảo hộ SHTT và mật độ dịch vụ tri thức vào nhóm chỉ số tác động (Impact & Output Indicators)8. Căn cứ vào các nhận định của WIPO, có thể xác nhận rằng dịch vụ SHTT được cộng đồng quốc tế đánh giá là thành tố bắt buộc của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, không phải là hoạt động ngoại vi hay phụ trợ đơn thuần.

Bên cạnh đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) nhận định rằng:

"Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tạo động lực quan trọng để đầu tư vào đổi mới sáng tạo bằng cách cho phép các doanh nghiệp thu hồi chi phí đầu tư. Các quyền SHTT cần được bảo hộ hiệu quả và thực thi một cách thỏa đáng. Chúng góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến tri thức và tạo ra giá trị."

Cách nhận định này của OECD hoàn toàn tương thích với cấu trúc Khoản 13 Luật 2025, khi nhà lập pháp Việt Nam đặt SHTT bên cạnh các dịch vụ hỗ trợ hệ sinh thái khác như tài chính, thông tin thị trường, kết nối đầu tư.

3.5.3. Hệ quả đối với cách giải thích Luật 2025

Kết luận 51-KL/TW của Bộ Chính trị không chỉ tái khẳng định mà còn nâng tầm vị trí của SHTT là yếu tố cốt lõi cho tự chủ chiến lược quốc gia, đồng thời yêu cầu chuyển đổi tư duy sang kiến tạo hệ sinh thái SHTT. Kết luận này đóng vai trò nền tảng cho chính sách, mọi cách giải thích pháp luật liên quan đến SHTT phải phù hợp với định hướng mà Bộ Chính trị đã xác lập.

Ngoài ra, các minh chứng quốc tế từ WIPO và OECD đều đi đến một kết luận: dịch vụ SHTT là thành phần cấu trúc (structural component) của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, không phải dịch vụ thương mại thuần túy.

Luật 2025 được ban hành với mục tiêu mở rộng, không thu hẹp, hệ sinh thái hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo. Chính tên gọi của Luật, trong đó bổ sung cụm "và Đổi mới sáng tạo" so với Luật 2013, đã thể hiện rõ ý chí mở rộng phạm vi. Việc nhà lập pháp liệt kê SHTT tại vị trí đầu tiên trong Khoản 13 là hành vi lập pháp có chủ đích, phù hợp hoàn toàn với xu hướng quốc tế và chỉ đạo của Bộ Chính trị.

Trong bối cảnh đó, việc loại bỏ dịch vụ SHTT khỏi nhóm dịch vụ KH, CN & ĐMST, từ đó tăng thuế suất GTGT đối với dịch vụ SHTT từ 5% lên 10% sẽ:

Đi ngược lại định hướng chính sách của chính Luật 2025;

Trái với tinh thần và nội dung Kết luận số 51-KL/TW ngày 17/6/2026 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác SHTT, đặc biệt là yêu cầu kiến tạo hệ sinh thái SHTT và khai thác SHTT như tài sản kinh tế;

Tạo gánh nặng tài chính trực tiếp lên doanh nghiệp khởi nghiệp (start-up) và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), đây chính là các đối tượng mà hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần ưu tiên hỗ trợ;

Đi ngược xu hướng quốc tế, khi các nền kinh tế phát triển đều coi dịch vụ SHTT là dịch vụ hỗ trợ đổi mới sáng tạo cần được khuyến khích, không phải dịch vụ thương mại cần đánh thuế cao.

4. Kết luận

Trên cơ sở phân tích toàn diện, đối chiếu cấu trúc kế thừa giữa hai Luật, phân tích mối quan hệ logic giữa Khoản 12 và 13, và áp dụng các nguyên tắc giải thích pháp luật, có đủ căn cứ để khẳng định rằng việc cung cấp dịch vụ SHTT, bao gồm dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp và tư vấn SHTT, trên toàn bộ các đối tượng bảo hộ và toàn bộ chuỗi dịch vụ, tiếp tục thuộc phạm vi dịch vụ KH, CN & ĐMST theo Luật số 93/2025/QH15. Thuế suất GTGT 5% đối với dịch vụ SHTT vẫn có đủ căn cứ pháp lý để tiếp tục áp dụng. Việc truy thu thuế và xử phạt trên cơ sở "khoảng trống dẫn chiếu kỹ thuật" là không có căn cứ pháp lý vững chắc.

Thái Quang Minh

Trưởng nhóm Sáng chế, Công ty TNHH Luật ALIAT

THƯ MỜI GÓP Ý TƯỞNG TỌA ĐÀM, KIẾN NGHỊ VÀ ĐỒNG HÀNH

Thuế GTGT đối với dịch vụ SHTT là thuế gián thu. Người chịu thuế cuối cùng là doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục và nhà sáng chế cá nhân sử dụng dịch vụ – trong đó nhiều chủ thể không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Vì vậy, việc tăng thuế là một quyết định rất nhạy cảm và chắc chắn phải được cân nhắc một cách kỹ càng trước khi áp dụng, đặc biệt trong bối cảnh Bộ Chính trị đang đặt ra yêu cầu cao cho việc phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo nhằm phát triển tài sản SHTT theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị.

Từ thực tiễn đó, BBT Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo xuất bản loạt bài về các vấn đề:

- Vướng mắc thuế GTGT dịch vụ Sở hữu trí tuệ: Doanh nghiệp và hội viên VIPA đứng ngồi không yên

- Dịch vụ Sở hữu trí tuệ có thuộc nhóm Dịch vụ Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo?

- Tăng thuế GTGT dịch vụ SHTT: Nguy cơ làm chậm nhịp đổi mới sáng tạo và tạo rào cản cho doanh nghiệp

- Cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất thuế GTGT đối với dịch vụ Sở hữu trí tuệ

BBT kính mời Quý Bạn đọc, Quý đơn vị là các đối tượng chịu tác động bởi thuế suất GTGT dịch vụ SHTT góp ý tưởng Tọa đàm, đề nghị hiến kế, đề xuất và đồng hành.

Các ý kiến, kiến nghị sẽ được tổng hợp, thảo luận chuyên đề, chính thức gửi tới cơ quan, cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Mọi ý kiến xin gửi về:

- BBT Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo

- Hotline: 0919.880.866

- Email: [email protected]

- Bộ Phận thư ký: 0912 06 77 66 (NB. Phạm Tài)

Trân trọng cảm ơn.

Tin khác

Pháp luật 11 giờ trước
(SHTT) - Bộ Khoa học và Công nghệ đang dự thảo Thông tư bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Pháp luật 1 ngày trước
(SHTT) - Có những bản án được tuyên không chỉ để trừng phạt mà còn để cứu vớt những cuộc đời đang trượt dài trên bờ vực thẳm. Vụ án tổ chức sử dụng chất cấm tại xã Trà Giang do những thanh thiếu niên sinh năm 2008 và 2010 thực hiện là một vết cắt nhức nhối.
Pháp luật 1 ngày trước
(SHTT) - Thời gian qua, Phòng Cảnh sát kinh tế (Công an thành phố Quảng Ninh) đã chủ động tham mưu Ban Giám đốc Công an thành phố triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh gay gắt với tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Pháp luật 1 ngày trước
(SHTT) - Đội Quản lý thị trường số 13, Chi cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội vừa chuyển hồ sơ cùng 1.151 bộ quần áo có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu Adidas sang Công an phường Cầu Giấy để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.
Pháp luật 1 ngày trước
(SHTT) - Đội Quản lý thị trường số 15, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Phú Thọ mới đây đã chuyển hồ sơ vụ việc buôn bán hàng hóa có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu liên quan Hộ kinh doanh Phạm Thị Hồng đến Công an xã Bình Nguyên để tiếp tục thụ lý, điều tra theo quy định.