ĐBSCL: Chiến lược chuyển đổi sang 'vùng thương hiệu nông sản số'
Tuy nhiên, hành trình này đang bị cản trở bởi những vướng mắc cố hữu trong việc đăng ký và khai thác nhãn hiệu hàng hóa, một "điểm nghẽn" đòi hỏi giải pháp chiến lược và đồng bộ.
Trong giai đoạn 2018-2022, Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) ghi nhận gần 9.870 đơn đăng ký và hơn 5.800 văn bằng bảo hộ tại ĐBSCL. Sự ra đời của nhiều nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận đã trở thành công cụ pháp lý và tiếp thị quan trọng, giúp nhiều sản phẩm vươn ra thế giới, tiêu biểu như Gạo thơm ST với danh hiệu "Gạo ngon nhất thế giới" hay Xoài cát Hòa Lộc xuất khẩu sang các thị trường khó tính.
Dù số lượng văn bằng bảo hộ tăng lên, TS. Nguyễn Quốc Nghi (Trường Kinh tế - Đại học Cần Thơ) cảnh báo rằng mức độ khai thác thương mại và ứng dụng công nghệ số vẫn còn khiêm tốn. Tình trạng "thương hiệu trên giấy" diễn ra phổ biến khi nhiều văn bằng bảo hộ không được sử dụng đồng bộ trên bao bì, tem sản phẩm hay truyền thông, khiến tỷ lệ sản phẩm chủ lực được gắn nhãn hiệu vẫn khiêm tốn so với khối lượng sản phẩm lưu thông thực tế.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước một cơ hội lịch sử, hướng đến mục tiêu đầy tham vọng: chuyển mình từ "vùng sản xuất nông sản" đơn thuần sang "vùng thương hiệu nông sản số".
Các chuyên gia cho rằng, khó khăn trong đăng ký, quản lý và phát triển nhãn hiệu tại ĐBSCL xuất phát từ sự tổng hòa của đặc thù sản xuất và vướng mắc trong quy trình pháp lý.
Thứ nhất, tổ chức sản xuất còn manh mún, lỏng lẻo. Phần lớn nông sản do các hộ nông dân sản xuất, dẫn đến thiếu liên kết chặt chẽ và không đồng nhất về quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng. Việc thiếu hệ thống quản lý vùng nguyên liệu thống nhất khiến công tác truy xuất nguồn gốc gặp khó, làm suy giảm uy tín chung.
Thứ hai, việc quản lý nhãn hiệu tập thể/chứng nhận đang gặp vấn đề lớn do các chủ sở hữu (HTX, Hiệp hội) thường phân tán nguồn lực và có kinh nghiệm thương mại, quản lý còn hạn chế. Sau khi đăng ký thành công, việc kiểm soát và duy trì chất lượng theo quy chế chung thường bị lơ là, ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị thương hiệu.
Thứ ba, nhận thức về SHTT chưa được coi trọng. Nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chỉ tập trung vào sản xuất mà bỏ qua vai trò chiến lược của bảo hộ thương hiệu, đối mặt với rủi ro bị đánh cắp hoặc mất nhãn hiệu đã sử dụng. Bên cạnh đó, các hộ kinh doanh và HTX còn thiếu kiến thức chuyên môn trong việc tra cứu và phân loại hàng hóa.
Thêm vào đó, Thạc sĩ Lê Minh Thu (Cục SHTT) nhấn mạnh rằng kinh phí hỗ trợ quản lý và quảng bá nhãn hiệu còn thấp, thiếu chính sách ổn định, dài hạn. Gánh nặng chi phí đăng ký và duy trì nhãn hiệu trở thành rào cản lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tiềm lực tài chính thấp. Đặc biệt, thời gian xét duyệt đơn đăng ký kéo dài (thường từ 18 đến 24 tháng) gây chậm tiến độ kinh doanh và tạo áp lực cạnh tranh.
Cuối cùng, tình trạng vi phạm SHTT vẫn diễn ra phổ biến, đặc biệt trên môi trường thương mại điện tử. Việc xử lý tranh chấp và thực thi quyền sở hữu nhãn hiệu còn phức tạp, tốn kém chi phí và thời gian.
Để tối ưu hóa giá trị SHTT và nâng cao năng lực cạnh tranh, việc tích hợp SHTT với chuyển đổi số được coi là giải pháp chiến lược.
Bà Trần Thị Thanh Điệp, Trưởng Phòng SHTT- Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ, khẳng định chính quyền địa phương cần ưu tiên đầu tư hạ tầng số và hỗ trợ kỹ thuật trong đăng ký, quản lý, và giám sát quyền SHTT. Việc tích hợp dữ liệu NHTT/NHCN vào hệ thống thông tin địa lý và cơ sở dữ liệu dùng chung sẽ nâng cao năng lực giám sát và định vị thương hiệu sản phẩm chủ lực.
Giải pháp then chốt là phát triển nền tảng quản lý chỉ dẫn địa lý (CDĐL) trực tuyến và ứng dụng các công nghệ hiện đại như Blockchain trong truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng. Triển khai các hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng mã QR thông minh hoặc cổng dữ liệu truy cập mở sẽ là bước đi quan trọng nhằm nâng cao niềm tin người tiêu dùng và giải quyết bài toán chất lượng đồng nhất.
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Cẩn, quyền Viện trưởng Viện SHTT quốc gia, nhận định ĐBSCL đang có cơ hội lớn để chuyển đổi. Giải quyết triệt để các khó khăn từ quy mô sản xuất nhỏ lẻ, nhận thức SHTT đến vướng mắc quy trình pháp lý đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ. Cụ thể, cần tăng cường kết nối giữa cơ quan quản lý – hợp tác xã – doanh nghiệp – nông dân để hệ thống SHTT phát huy tối đa vai trò là công cụ chiến lược.
Chuyển đổi số, thông qua số hóa dữ liệu SHTT, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử đa kênh, là con đường tiên quyết để khai thác hiệu quả hơn 350 nhãn hiệu đã được bảo hộ. Hoàn thiện khung chính sách và tăng cường năng lực quản trị thương hiệu tập thể sẽ là điều kiện then chốt, giúp ĐBSCL khẳng định vị thế thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế, hiện thực hóa khát vọng trở thành "vùng thương hiệu nông sản số" trong tương lai gần.
Minh Hà
TIN LIÊN QUAN
-
Cảnh báo: Không mua và sử dụng chậu tắm gấp gọn trẻ em hiệu Napei Trung Quốc
-
Vụ tranh chấp bản quyền báo chí với New York Times, OpenAI buộc phải công khai nhật ký ChatGPT
-
Đề xuất Google, Facebook, TikTok phải trả phí bản quyền tác phẩm báo chí
-
Thanh Hóa: Thu hồi khẩn thuốc bột uống Padobaby kém chất lượng
Tin khác
- Xưởng sản xuất balo Melibag
- thiết kế website Bình Dương