Đặt mục tiêu đến năm 2030 thí điểm xác định giá trị ít nhất 100 quyền sở hữu trí tuệ
Tạo nền tảng đưa quyền sở hữu trí tuệ vào thị trường
Quyết định số 1624/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 đã đặt mục tiêu thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc khai thác và giao dịch quyền sở hữu trí tuệ trên thị trường. Trong đó, một mục tiêu đáng chú ý là thí điểm hỗ trợ xác định giá trị đối với ít nhất 100 quyền sở hữu trí tuệ thuộc viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Việc xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ được đặt trong nhóm giải pháp nhằm đưa các tài sản trí tuệ tham gia sâu hơn vào các hoạt động giao dịch. Đây cũng được xem là một trong những điều kiện quan trọng để các quyền sở hữu trí tuệ có thể được khai thác hiệu quả hơn về mặt thương mại.
Theo định hướng của Quyết định số 1624/QĐ-TTg, hệ thống pháp luật liên quan đến giao dịch quyền sở hữu trí tuệ sẽ tiếp tục được hoàn thiện. Các nội dung cần được chú trọng gồm góp vốn, giao dịch bảo đảm, định giá, kế toán và kiểm toán quyền sở hữu trí tuệ.
Cùng với hoàn thiện hành lang pháp lý, các cơ chế, chính sách về tài chính, tín dụng và ưu đãi cũng sẽ được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Trọng tâm là thúc đẩy việc khai thác các quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra từ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước.
Như vậy, mục tiêu thí điểm hỗ trợ xác định giá trị ít nhất 100 quyền sở hữu trí tuệ không chỉ dừng lại ở hoạt động định giá. Đây là một phần trong định hướng rộng hơn nhằm tạo điều kiện để quyền sở hữu trí tuệ có thể tham gia vào các hoạt động góp vốn, giao dịch bảo đảm, định giá, kế toán, kiểm toán và khai thác thương mại trên thị trường.
Chú trọng viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp
Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 xác định viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp là những chủ thể quan trọng trong quá trình tạo lập, quản trị và khai thác quyền sở hữu trí tuệ.
Các chỉ số đo lường về sở hữu trí tuệ sẽ được sử dụng làm một trong những căn cứ đánh giá hiệu quả hoạt động của các viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp. Đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học được yêu cầu xác định các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cần đạt được.
Trong các chương trình khoa học và công nghệ, việc hỗ trợ hợp tác giữa viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo với doanh nghiệp cũng được định hướng theo hướng tạo ra các kết quả nghiên cứu có khả năng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Công cụ sở hữu trí tuệ tiếp tục được sử dụng để hỗ trợ phát triển các ngành, lĩnh vực trọng điểm, các sản phẩm và dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, hướng tới tạo ra công nghệ nguồn và công nghệ lõi.
Đối với doanh nghiệp, Chiến lược yêu cầu tăng cường hướng dẫn và hỗ trợ quản trị danh mục quyền sở hữu trí tuệ. Việc sử dụng các công cụ sở hữu trí tuệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu hàng hóa cũng được đẩy mạnh.
Hoạt động hỗ trợ tạo lập, khai thác, bảo vệ và phát triển quyền sở hữu trí tuệ sẽ được lồng ghép vào các chương trình quốc gia, trong đó có Chương trình Mỗi xã một sản phẩm, OCOP.
Kết nối tài sản trí tuệ với hệ sinh thái khởi nghiệp và nguồn vốn
Một định hướng khác được đặt ra là tăng cường kết nối quyền sở hữu trí tuệ với hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và các nguồn vốn đầu tư.
Theo đó, các trung tâm đổi mới sáng tạo và trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo được định hướng phát triển gắn với các hình thức đầu tư mạo hiểm. Hoạt động hỗ trợ có thể được triển khai xuyên suốt từ giai đoạn hình thành ý tưởng, nghiên cứu, phát triển, sản xuất thử nghiệm đến khi hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cũng được hỗ trợ hoàn thiện công nghệ, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Việc xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ vì thế có ý nghĩa trong việc hỗ trợ các tài sản trí tuệ tiếp cận các nguồn lực và cơ hội khai thác thương mại.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, Chiến lược đặt ra yêu cầu triển khai các chương trình hỗ trợ khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, nghiên cứu thành lập các quỹ và chương trình hỗ trợ tài chính, áp dụng ưu đãi thuế và cơ chế bảo lãnh tín dụng của Nhà nước để hỗ trợ hoạt động bảo hộ, khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ trong nước và ngoài nước.
Cá nhân và doanh nghiệp Việt Nam cũng được hỗ trợ bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài, qua đó mở rộng khả năng thương mại hóa tài sản trí tuệ trên thị trường quốc tế.
Phát triển dịch vụ định giá và khai thác thương mại
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, mạng lưới tổ chức dịch vụ sở hữu trí tuệ được định hướng phát triển theo hướng chuyên nghiệp hơn.
Đáng chú ý, Chiến lược đặt trọng tâm vào việc phát triển các trung tâm tư vấn, hỗ trợ định giá và khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ tại viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học. Song song với đó là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chuyên môn về thẩm định giá và hỗ trợ thương mại hóa.
Mục tiêu thí điểm hỗ trợ xác định giá trị ít nhất 100 quyền sở hữu trí tuệ vì vậy được đặt trong một hệ thống giải pháp đồng bộ, từ hoàn thiện hành lang pháp lý đến hỗ trợ tài chính, tín dụng, phát triển dịch vụ chuyên môn và tăng cường năng lực thương mại hóa.
Thông qua việc từng bước tháo gỡ các vướng mắc trong xác định giá trị và giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030 hướng tới thúc đẩy tài sản trí tuệ được khai thác hiệu quả hơn, đồng thời kết nối chặt chẽ hơn hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với thị trường và nhu cầu của doanh nghiệp.
Quỳnh Trang