Chuyển đổi số: Động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bứt phá kinh tế số
Kinh tế Việt Nam đang vươn lên mạnh mẽ
Sáng nay, ngày 21/11, tại diễn đàn "Phát triển kinh tế số: Cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên mới", Phó Vụ trưởng - Vụ Kinh tế - Xã hội số (Bộ KH&CN) Nguyễn Phú Tiến đã mang đến tham luận với chủ đề "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực chính thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bứt phá kinh tế số".
Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế – Xã hội số (Bộ KH&CN) Nguyễn Phú Tiến chia sẻ tại diễn đàn. Ảnh: Phạm Hùng.
Tại bài tham luận, Phó Vụ trưởng Nguyễn Phú Tiến cho biết, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, toàn cầu hóa và chuyển đổi số trở thành xu thế tất yếu, Việt Nam đứng trước cơ hội để chuyển mình và bứt phá. Thành tựu Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) không còn là yếu tố hỗ trợ, mà đã trở thành động lực chính, quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia.
Sự phát triển của Kinh tế số là mục tiêu chiến lược quốc gia nhằm tạo ra mô hình tăng trưởng mới, dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần có một chuỗi hành động đồng bộ: KHCN&ĐMST phải tạo ra xung lực, Chuyển đổi số (CĐS) phải là phương thức triển khai và kinh tế số là thành quả đạt được.
Mệnh lệnh chiến lược từ Đảng đã được khẳng định rõ trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đặt KHCN&ĐMST và CĐS vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển đất nước, là đột phá quan trọng hàng đầu.
Trên thực tế, thời gian vừa qua, Việt Nam đã đạt đước những kết quả nổi bật trong phát triển kinh tế số trong những năm gần đây, khẳng định vị thế là nền kinh tế số phát triển nhanh nhất khu vực.
Cụ thể, Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế số nhanh nhất Đông Nam Á trong 3 năm liên tiếp. Theo ước tính của Bộ KHCN, Tốc độ phát triển Kinh tế số khoảng 20%/năm, cao gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP, cho thấy vai trò của KTS như một công cụ bình ổn và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước bối cảnh suy thoái toàn cầu.
Về hạ tầng số, tốc độ Internet di động của Việt Nam tiếp tục duy trì trong nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới, xếp hạng 13/139 quốc gia, tốc độ tải xuống đạt khoảng 160 Mbps; Mạng 5G tiếp tục được đẩy mạnh triển khai trên toàn quốc, dự kiến đến hết năm 2025 đạt khoảng 70 nghìn trạm 5G, tương đương khoảng 60% số trạm 4G, phủ sóng khoảng 90% dân số. Tốc độ Internet cố định của Việt Nam đứng thứ 11 thế giới, tăng 21 bậc so với cùng kỳ năm 2024. Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam có 45 trung tâm dữ liệu (IDC), trong đó 32 IDC cung cấp dịch vụ thương mại và 13 IDC phục vụ nội bộ.
Về nhân lực cho CĐS, Việt Nam có một tiềm năng lớn với khoảng 170 trường đại học và trên 500 trường dạy nghề đang đào tạo chuyên ngành CNTT và các lĩnh vực liên quan; hằng năm số tốt nghiệp khoảng trên 80 nghìn.
Công nghiệp Công nghệ số Việt Nam cũng duy trì tốc độ tăng trưởng cao, là nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số, Việt Nam hiện có khoảng 80.000 doanh nghiệp công nghệ số, doanh thu tháng 10 đạt khoảng 20 tỷ USD (tăng 50% so cùng kỳ 2024). Các doanh nghiệp này đang tạo ra các sản phẩm phần cứng, nền tảng số, dịch vụ số phục vụ CĐS quốc gia, KTS và mở rộng thị trường quốc tế.
Những kết quả trên cho thấy, Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình gia công, lắp ráp sang thiết kế, làm chủ công nghệ và sản xuất các sản phẩm "Make in Vietnam". Sự chuyển dịch này là yếu tố then chốt để nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh quốc gia.
Diễn đàn "Phát triển kinh tế số: Cơ hội và thách thức trong kỷ nguyên mới" được tổ chức tại Hà Nội sáng nay
Một số giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế số giai đoạn 2026-2030
Theo Phó Vụ trưởng - Vụ Kinh tế - Xã hội số, CĐS phải giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), tăng khả năng cạnh tranh bằng cách áp dụng công nghệ số vào mọi khâu: từ thiết kế, sản xuất thông minh, tiếp thị số, đến quản lý khách hàng và mở rộng thị trường qua thương mại điện tử. Đây là con đường ngắn nhất để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Để kinh tế số giai đoạn 2026-2030 phát triển mạnh mẽ, ông Nguyễn Phú Tiến cho rằng cần tập trung vào 10 nhiệm vụ, giai pháp trọng tâm như sau:
Thứ nhất là thể chế đi trước một bước, bảo đảm hành lang pháp lý minh bạch, thuận lợi, tạo động lực cho đổi mới sáng tạo và giải phóng nguồn lực xã hội. Trong đó, tập trung hoàn thiện chính sách, pháp luật để chuyển đổi các hoạt động kinh tế - xã hội lên môi trường số (thúc đẩy giao dịch điện tử). Triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) cho mô hình kinh doanh mới và mô hình quản trị số.
Thứ hai là phát triển hạ tầng số nhanh, đồng bộ, hiện đại, an toàn để thúc đẩy kinh tế số và xã hội số. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư hạ tầng thiết yếu, doanh nghiệp phát triển hạ tầng khác theo cơ chế thị trường. Thực hiện Phổ cập kết nối số toàn dân (phủ sóng băng rộng, 5G, xóa vùng lõm sóng) và phát triển các hạ tầng số công cộng (định danh số, thanh toán số, chữ ký số). Thông minh hóa hạ tầng truyền thống (giao thông, đô thị, năng lượng).
Thứ ba là phát triển nền tảng số do Việt Nam làm chủ, trở thành không gian cho các hoạt động kinh tế số và xã hội số, giải quyết các bài toán phát triển liên ngành, liên vùng. Thúc đẩy sử dụng nền tảng số quản trị, vận hành theo ngành, lĩnh vực để đưa toàn bộ hoạt động lên môi trường số. Định kỳ cập nhật và công bố hệ sinh thái nền tảng số dùng chung, nền tảng số quốc gia trong từng ngành, lĩnh vực.
Thứ tư là xác định dữ liệu là yếu tố sản xuất, nguồn tài nguyên chiến lược trong phát triển kinh tế số và xã hội số. Nhà nước tạo lập dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và phát triển thị trường dữ liệu. Hoàn thiện chính sách tài chính cho việc cung cấp, chia sẻ dữ liệu công - tư. Xây dựng chính sách về tài sản dữ liệu, quyền sở hữu và phân phối giá trị dữ liệu. Thí điểm sàn giao dịch dữ liệu. Phát triển dữ liệu mở.
Thứ năm là Bảo đảm an toàn, an ninh mạng, điều kiện tiên quyết để tạo dựng niềm tin trong quá trình phát triển kinh tế số và xã hội số. Quy định về an toàn thông tin mạng xuyên suốt quá trình thiết kế, phát triển và vận hành hạ tầng/nền tảng số. Phổ cập các công cụ, nền tảng số bảo vệ người dân và doanh nghiệp ở mức cơ bản. Thúc đẩy sử dụng chữ ký số và dịch vụ tin cậy.
Chuyển đổi số là động lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế số tại Việt Nam
Thứ sáu là phát triển nhân lực số bao gồm: nhân lực công nghệ số và nhân lực có kỹ năng sử dụng các nền tảng số, định kỳ đề xuất bổ sung ngành/mã ngành mới. Tổ chức chuyên ngành đào tạo công nghệ số tập trung vào công nghệ lõi, mới nổi. Triển khai chương trình “Học từ làm việc thực tế” liên kết chặt chẽ giữa các bên.
Thứ bảy là phát triển công dân số và văn hoá số làm nền tảng kiến tạo xã hội số công bằng, an toàn. Xây dựng khung kỹ năng số quốc gia và chuẩn kỹ năng số theo từng nhóm đối tượng (người dân, công chức, học sinh). Triển khai các chương trình: “Bình dân học vụ số” và đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số trên nền tảng học trực tuyến đại trà (MOOCs).
Thứ tám là phát triển doanh nghiệp công nghệ số chủ lực, có năng lực dẫn dắt thị trường. Cụ thể, cần triển khai Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam, tập trung làm chủ các công nghệ chiến lược (AI, Big Data, Cloud, Blockchain, IoT, bán dẫn). Triển khai Chương trình chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEdx). Phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn và giao nhiệm vụ cụ thể cho một số tập đoàn lớn.
Thứ chín là phát triển quản trị số làm nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại, dựa trên dữ liệu, nâng cao hiệu lực, hiệu quả ở mọi cấp chính quyền. Cải cách hành chính dựa trên công nghệ số theo hướng chuyển toàn bộ thủ tục hành chính sang môi trường số, toàn trình, hạn chế tiếp xúc trực tiếp (áp dụng hậu kiểm thay cho tiền kiểm). Thúc đẩy quản trị số trong kinh tế số và xã hội số; hình thành dữ liệu theo thời gian thực và tích hợp vào hệ thống chỉ đạo, điều hành xuyên suốt từ Trung ương đến cấp phường, xã.
Thứ mười là Phát triển kinh tế số và xã hội số toàn diện trong tất cả các ngành, lĩnh vực và tập trung phát triển một số ngành, lĩnh vực trọng điểm (Nông nghiệp; Môi trường; Du lịch; Văn hoá; Thương mại; Công nghiệp chế biến, chế tạo; Năng lượng; Logistics; Y tế, Giáo dục).
Quỳnh Trang