SO HUU TRI TUE
Thứ ba, 08/09/2026
  • Click để copy

Chủ sở hữu có thể mất quyền với sáng chế, nhãn hiệu nếu 'quên' gia hạn văn bằng

15:59, 03/06/2026
(SHTT)- Nhiều chủ sở hữu sáng chế, nhãn hiệu chủ quan rằng quyền sở hữu sẽ được bảo hộ trong suốt thời hạn ghi trên văn bằng mà không quá chú trọng tới việc thực hiện thủ tục duy trì hoặc gia hạn văn bằng bảo hộ theo đúng thời hạn quy định. Điều này có thể làm mất quyền với sáng chế, nhãn hiệu.

Mỗi loại văn bằng bảo hộ đều có thời hạn hiệu lực khác nhau

Trong quá trình khai thác tài sản trí tuệ, nhiều doanh nghiệp, chủ sở hữu thường chỉ tập trung vào việc đăng ký bảo hộ nhưng lại chưa thực sự quan tâm đến các nghĩa vụ pháp lý phát sinh sau khi được cấp văn bằng, đặc biệt là thủ tục duy trì và gia hạn văn bằng bảo hộ. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đây là một trong những nguyên nhân khiến không ít trường hợp quyền sở hữu sáng chế, nhãn hiệu bị chấm dứt hiệu lực.

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, mỗi đối tượng sở hữu công nghiệp có thời hạn bảo hộ khác nhau. Cụ thể:

Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực kể từ ngày cấp và kéo dài đến hết 20 năm kể từ ngày nộp đơn hoặc ngày nộp đơn quốc tế. Hiệu lực bảo hộ cần được duy trì hằng năm.

Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực kể từ ngày cấp và kéo dài đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn hoặc ngày nộp đơn quốc tế. Hiệu lực bảo hộ cũng cần được duy trì hằng năm.

Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực kể từ ngày cấp và kéo dài đến hết 05 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn 02 lần liên tiếp, mỗi lần 05 năm. Trường hợp kiểu dáng công nghiệp có nhiều phương án thì Bằng độc quyền có thể được gia hạn đối với tất cả hoặc một số phương án, trong đó phải có phương án cơ bản.

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực kể từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm đối với toàn bộ hoặc một phần danh mục hàng hóa, dịch vụ.

Tuy nhiên, việc văn bằng có thời hạn bảo hộ dài không đồng nghĩa với việc hiệu lực được duy trì một cách tự động. 

641d0672beb5d

 

Quên gia hạn đồng nghĩa với việc mất quyền sở hữu

Theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ, để văn bằng tiếp tục có hiệu lực, chủ sở hữu phải nộp yêu cầu duy trì hoặc gia hạn trong thời hạn luật định.

Cụ thể, trong vòng 6 tháng trước ngày kết thúc kỳ hạn hiệu lực, chủ văn bằng phải nộp hồ sơ yêu cầu duy trì hoặc gia hạn kèm các khoản phí, lệ phí theo quy định.

Pháp luật cho phép nộp muộn nhưng không quá 6 tháng kể từ ngày hết hạn. Trong trường hợp này, chủ sở hữu phải nộp thêm khoản lệ phí duy trì hoặc gia hạn muộn tương ứng.

Nếu không thực hiện nghĩa vụ này, văn bằng bảo hộ có thể bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ.

Đối với nhãn hiệu, đây là một trong những căn cứ phổ biến dẫn đến việc Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu mất hiệu lực trước khi kết thúc chu kỳ bảo hộ 10 năm.

Hồ sơ yêu cầu duy trì hiệu lực gồm tờ khai yêu cầu duy trì hiệu lực theo mẫu số 07 tại Phụ lục II của Nghị định 65/2023/NĐ-CP; giấy ủy quyền trong trường hợp nộp yêu cầu thông qua đại diện; bản sao chứng từ nộp phí, lệ phí theo quy định và tài liệu khác nếu cần.

Hồ sơ duy trì hiệu lực bao gồm tờ khai theo mẫu quy định, giấy ủy quyền trong trường hợp nộp thông qua đại diện, chứng từ nộp phí và các tài liệu liên quan khác nếu cần thiết. Thời hạn thẩm định thông thường là 1 tháng kể từ ngày nộp hồ sơ.

Không chỉ quên gia hạn, nhãn hiệu còn có thể bị chấm dứt hiệu lực vì không sử dụng

Một điểm pháp lý đáng chú ý đối với nhãn hiệu là dù đã được cấp văn bằng bảo hộ và còn trong thời hạn hiệu lực, quyền đối với nhãn hiệu vẫn có thể bị chấm dứt trong một số trường hợp nhất định.

Khoản 1 Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ quy định nhiều căn cứ dẫn tới việc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ, trong đó có trường hợp nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn 5 năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng.

Tuy nhiên, cần hiểu chính xác rằng hiệu lực văn bằng trong trường hợp này không tự động bị chấm dứt sau 5 năm không sử dụng.

Việc chấm dứt chỉ được xem xét khi có tổ chức hoặc cá nhân nộp đơn yêu cầu đến Cục Sở hữu trí tuệ, đồng thời cung cấp căn cứ và chứng cứ chứng minh việc không sử dụng nhãn hiệu theo quy định của pháp luật.

Sau khi tiếp nhận yêu cầu, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ tiến hành xem xét hồ sơ, tạo điều kiện để chủ văn bằng bảo hộ có ý kiến phản hồi trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.

Quy định này nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu và lợi ích chung của thị trường, tránh tình trạng "chiếm giữ" nhãn hiệu trong thời gian dài nhưng không đưa vào khai thác thực tế.

Cơ hội cho các chủ thể khác khai thác nguồn tài sản trí tuệ bị bỏ quênCác chuyên gia sở hữu trí tuệ cho rằng quy định về chấm dứt hiệu lực đối với nhãn hiệu không sử dụng là một cơ chế quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tài sản trí tuệ.

Trong thực tế, nhiều nhãn hiệu đã được đăng ký từ rất sớm nhưng không còn được chủ sở hữu sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Nếu những nhãn hiệu này tiếp tục tồn tại trên hệ thống đăng ký mà không có cơ chế xử lý thì sẽ hạn chế cơ hội tiếp cận của các doanh nghiệp khác có nhu cầu sử dụng dấu hiệu tương tự.

Đáng chú ý, Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định một ngoại lệ quan trọng. Thông thường, nhãn hiệu đã chấm dứt hiệu lực vẫn có thể là căn cứ từ chối các đơn đăng ký mới trong thời hạn 5 năm kể từ ngày chấm dứt hiệu lực.

Tuy nhiên, quy định này không áp dụng đối với trường hợp nhãn hiệu bị chấm dứt hiệu lực do không được sử dụng liên tục trong 5 năm theo điểm d khoản 1 Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ. Đây được xem là cơ sở pháp lý mở ra cơ hội cho các chủ thể khác đăng ký và khai thác những dấu hiệu đã bị bỏ ngỏ trên thị trường.

SO-HUU-TRI-TUE-1-scaled

 

Chủ động quản trị tài sản trí tuệ để tránh rủi ro pháp lý

Từ góc độ quản trị doanh nghiệp, việc được cấp văn bằng bảo hộ mới chỉ là bước khởi đầu trong quá trình xác lập quyền sở hữu công nghiệp.

Các chuyên gia khuyến nghị chủ sở hữu cần xây dựng hệ thống theo dõi thời hạn duy trì và gia hạn đối với từng loại văn bằng, đồng thời lưu giữ đầy đủ chứng cứ sử dụng nhãn hiệu trong hoạt động thương mại để phục vụ việc bảo vệ quyền khi cần thiết.

Đối với nhãn hiệu, việc sử dụng thực tế trên hàng hóa, bao bì, tài liệu quảng cáo, website, hóa đơn hoặc các hoạt động thương mại khác không chỉ giúp gia tăng giá trị thương hiệu mà còn là căn cứ quan trọng để bảo vệ hiệu lực văn bằng khi phát sinh tranh chấp.

Trong bối cảnh tài sản trí tuệ ngày càng trở thành nguồn lực cạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp, việc bỏ lỡ một thời hạn duy trì hoặc gia hạn tưởng như đơn giản hoàn toàn có thể dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng, thậm chí làm mất đi những quyền sở hữu công nghiệp đã được xác lập sau nhiều năm đầu tư và xây dựng.

Thái An

Tin khác

(SHTT) - Trong môi trường số và kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, tác phẩm báo chí đang đối diện những phương thức khai thác ngày càng phức tạp, từ sao chép, cắt ghép đến thu thập dữ liệu tự động ở quy mô lớn. Điều này đòi hỏi các tòa soạn cần chuyển từ thế bị động xử lý vi phạm sang chủ động quản trị, khai thác và bảo vệ tài sản trí tuệ của mình.
(SHTT) - Cuộc chiến pháp lý về việc sử dụng dữ liệu giọng nói để huấn luyện AI đang nóng lên tại Mỹ, khi 9 hãng công nghệ lớn bị kiện vì bị cáo buộc thu thập hàng nghìn giờ ghi âm của con người mà không xin phép, vi phạm luật bảo mật dữ liệu sinh trắc học nghiêm ngặt của bang Illinois.
(SHTT) - Những tranh chấp bản quyền kéo dài của BH Media cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở hành vi xâm phạm một hay nhiều tác phẩm, mà còn do khoảng cách giữa việc xác lập quyền trên nền tảng số và quyền sở hữu hợp pháp theo pháp luật. Đây là dấu chỉ cho thấy sự cấp thiết xây dựng hạ tầng định danh, xác thực và quản trị tài sản trí tuệ trong môi trường số.
(SHTT) - Việc người bị khởi tố, bị kết án nhưng hình ảnh xuất hiện trên báo chí, TikTok, YouTube hay fanpage đặt ra nhiều tranh cãi về quyền hình ảnh, quyền thông tin và suy đoán vô tội. Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền sẽ phân tích việc ai có thể chịu trách nhiệm, khi nào được quyền công bố ảnh và căn cứ khởi kiện theo quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam này.
(SHTT) - Một bị cáo xuất hiện tại phiên tòa công khai không có nghĩa rằng từ thời điểm đó hình ảnh của họ trở thành “tài sản công cộng” để bất kỳ ai cũng được chụp, đăng lại, cắt ghép, làm thumbnail, chạy quảng cáo hoặc khai thác vô thời hạn. Đây là ranh giới pháp lý rất đáng lưu ý giữa quyền tác nghiệp báo chí và quyền nhân thân của người có hình ảnh.