Ca khúc đã 'hết bản quyền', cứ thế mang đi hát, phối lại, thu âm và kinh doanh có vi phạm luật SHTT
Một ca khúc có thể trải qua một vòng đời pháp lý rất đặc biệt: từ tài sản độc quyền của tác giả, trở thành tác phẩm thuộc về công chúng; nhưng ngay sau đó, một bản thu âm mới của chính ca khúc ấy lại hình thành một lớp quyền mới và tiếp tục được bảo hộ hàng chục năm.
Đây chính là điểm khiến nhiều người sử dụng âm nhạc dễ nhầm lẫn nhất: “Bài hát hết thời hạn bảo hộ” không đồng nghĩa với “mọi thứ liên quan đến bài hát đều hết bản quyền”.
Theo pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành, sau khi Luật số 131/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/4/2026, tác phẩm âm nhạc vẫn thuộc nhóm tác phẩm mà quyền công bố và các quyền tài sản về nguyên tắc được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết; nếu có đồng tác giả thì tính đến năm thứ 50 sau năm đồng tác giả cuối cùng chết. Thời hạn kết thúc vào 24 giờ ngày 31/12 của năm chấm dứt bảo hộ. Trong khi đó, các quyền nhân thân như đứng tên và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm thuộc nhóm được bảo hộ vô thời hạn.
Sau 50 năm, ca khúc 'thuộc về công chúng' nghĩa là gì?
Khi thời hạn bảo hộ quyền tài sản của ca khúc kết thúc, Điều 43 Luật Sở hữu trí tuệ xác định tác phẩm thuộc về công chúng. Khi đó, mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm, nhưng vẫn phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả và các quy định pháp luật có liên quan.
Đây là thời điểm giá trị văn hóa của tác phẩm được mở ra cho một vòng đời mới.
Một nhạc sĩ trẻ có thể khai thác ca khúc cũ để sáng tạo phiên bản mới; ca sĩ có thể biểu diễn; nhà sản xuất có thể thực hiện một bản phối, bản thu mới mà không còn phải xin phép chủ sở hữu các quyền tài sản đã hết thời hạn bảo hộ của tác phẩm gốc.
Tuy nhiên có một chữ “NHƯNG” rất lớn ở đây.
Được tự do khai thác ca khúc không có nghĩa được tự do lấy bản thu âm của người khác.
Cùng một bài hát nhưng có thể tồn tại nhiều ''tầng quyền'
Đây là vấn đề tôi cho rằng người làm âm nhạc, YouTube, TikTok, karaoke, phim ảnh và quảng cáo cần đặc biệt chú ý.
Ví dụ, một ca khúc của nhạc sĩ A đã hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản và thuộc về công chúng.
Ca sĩ B cùng nhà sản xuất C lấy ca khúc đó, phối khí lại và tạo ra một bản thu âm hoàn toàn mới vào năm 2026.
Người khác có thể khai thác tác phẩm gốc đã thuộc về công chúng trong phạm vi pháp luật cho phép, nhưng không vì thế mà được quyền lấy luôn file bản thu năm 2026 của B và C để đăng YouTube, làm video quảng cáo, phát hành album hay khai thác thương mại.
Bởi lúc này xuất hiện một lớp quyền khác: quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn và bản ghi âm, ghi hình.
Điều 34 Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền của người biểu diễn được bảo hộ 50 năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình; quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ 50 năm tính từ năm tiếp theo năm công bố, hoặc từ năm tiếp theo năm định hình nếu bản ghi chưa được công bố.
Nói một cách dễ hiểu:
Bài hát cũ có thể đã “tự do”, nhưng bản thu mới chưa chắc tự do.
Đó chính là lý do cùng một ca khúc, một người có thể tự hát và tự thu một phiên bản mới mà không còn phải xin quyền tài sản đối với tác phẩm gốc đã hết hạn bảo hộ, nhưng nếu lấy nguyên bản ghi âm của một ca sĩ khác để khai thác thì vẫn có thể xâm phạm quyền liên quan.
'Tái sinh' một ca khúc không làm sống lại bản quyền đã hết của tác phẩm gốc
Điểm này càng phải phân biệt.
Nếu một bài hát đã thuộc về công chúng thì việc ca sĩ B thu âm lại không làm cho B trở thành chủ sở hữu độc quyền đối với chính ca khúc gốc, cũng không làm thời hạn bảo hộ quyền tài sản của nhạc sĩ A tự động “chạy lại từ đầu”.
Cái mới được pháp luật bảo vệ là những đối tượng quyền mới phát sinh, chẳng hạn cuộc biểu diễn và bản ghi âm mới; nếu phần sáng tạo mới đủ điều kiện trở thành một đối tượng được bảo hộ độc lập thì quyền đối với phần sáng tạo đó cũng phải được xem xét riêng.
Do đó, một ca sĩ không thể nói: “Tôi vừa thu lại bài hát 70 năm tuổi này nên từ nay không ai được hát bài này nữa.”
Nhưng người khác cũng không thể nói: “Bài hát đã thuộc về công chúng nên tôi lấy luôn bản thu của anh đăng lên kênh của tôi.”
Cả hai cách hiểu đều sai ở chỗ đánh đồng tác phẩm âm nhạc với bản ghi âm.
Một bài hát có thể 'hết bản quyền' nhưng chưa chắc bạn đã được dùng thứ mình đang nghe
Ở góc độ chuyên gia, đây là bài học quan trọng nhất trong khai thác tài sản trí tuệ thời đại số.
Tác phẩm âm nhạc – phần lời, giai điệu – là một lớp quyền.
Cuộc biểu diễn của ca sĩ là một lớp quyền khác.
Bản ghi âm, ghi hình lại là một lớp quyền khác.
Pháp luật hiện hành cũng xác định khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hết thời hạn bảo hộ thì chúng mới thuộc về công chúng; ngay cả khi đó việc sử dụng vẫn phải tôn trọng các quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ.
Vì vậy, trước khi lấy một bài hát cũ để làm MV, karaoke, remix, quảng cáo hay đưa lên nền tảng số, đừng chỉ hỏi: “Nhạc sĩ mất hơn 50 năm chưa?”, mà phải hỏi tiếp: “Tôi đang sử dụng tác phẩm gốc hay đang lấy bản phối, giọng hát, cuộc biểu diễn hoặc bản ghi âm của một người khác?”
Chỉ một câu hỏi thứ hai này có thể quyết định việc sử dụng của bạn là khai thác một tác phẩm thuộc về công chúng hay đang bước sang quyền tài sản của một chủ thể hoàn toàn khác.
Bài hát có thể đã trở thành di sản của công chúng. Nhưng bản thu bạn đang nghe vẫn có thể là tài sản được pháp luật bảo hộ thêm 50 năm.
Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền
TIN LIÊN QUAN
-
Những điểm mới quan trọng trong thủ tục đăng ký sáng chế và lưu ý từ chuyên gia
-
Khi hình ảnh nghệ sĩ trở thành 'nguyên liệu' của cuộc đua view: Ai đang bảo vệ quyền của họ?
-
Nghị định 287: Cụ thể hóa cơ chế trả tiền bản quyền trong lĩnh vực văn hóa
-
Phụ huynh tự ý photo sách giáo khoa cho con học tập, có vi phạm bản quyền?