SO HUU TRI TUE

Bảo vệ bản quyền trong thời đại bùng nổ trí tuệ nhân tạo

(SHTT) - Với tốc độ phát triển chóng mặt của Trí tuệ nhân tạo (AI) như hiện nay, bản quyền trở thành một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Bài viết dưới đây sẽ nêu ra một số vấn đề bản quyền, đồng thời cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm bù đắp những lỗ hổng trong Luật Bản Quyền hiện hành.

hu-hi-he

 

Google vừa mới rót tiền vào một phần mềm máy tính có khả năng viết các tin bài về một địa điểm nào đó. Thực tế, một phần mềm do Nhật Bản sáng tạo ra có khả năng viết truyện ngắn. Truyện ngắn đầu tiên do phần mềm này viết đã giành giải thưởng trong cuộc thi văn học toàn quốc tại Nhật. Một công ty trí tuệ nhân tạo khác cũng mới tạo ra một phần mềm có khả năng cảm thụ và sáng tác nhạc. Tất cả những thông tin trên là những dẫn chứng tiêu biểu cho việc Trí tuệ nhân tạo ngày một trở nên phổ biến và đem lại nhiều giá trị cho thế giới hiện đại.

Trước đây, máy tính hoạt động chủ yếu dựa vào người lập trình viên và phần mềm máy tính thì chẳng khác gì những công cụ, máy móc như cây cọ, tấm vải làm phông nền cho họa sỹ vẽ lên. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ như hiện nay, đặc biệt là Trí tuệ nhân tạo, thì buộc lòng chúng ta phải suy tính đến mối quan hệ giữa máy tính và quá trình vận hành của nó. Mối quan hệ này là do kết quả tự tích lũy kinh nghiệm trong quá trình vận hành của các phần mềm. Điều đó có nghĩa là Trí tuệ nhân tạo sẽ tạo ra những phiên bản phần mềm có khả năng học hỏi và lưu giữ kinh nghiệm trong quá trình làm việc, sau đó tự chúng vận hành mà không cần đến con người.

Một khi Trí tuệ nhân tạo được sử dụng trong các tác phẩm văn học, âm nhạc và nghệ thuật, thì các thuật toán sẽ ghi nhớ những thông tin do lập trình viên cung cấp và tự động tạo ra một tác phẩm mới mà không cần đến nhân viên lập trình. Tự chúng có thể quyết định được hoạt động của mình. Hiện nay, những chương trình máy tính như vậy có quá trình vận hành ná ná như hoạt động suy nghĩ của con người.

Những rắc rối đặt ra cho Luật Bản Quyền

Các sáng chế dựa trên cơ chế học hỏi kinh nghiệm đòi hòi nhiều ràng buộc hơn về mặt Luật Bản Quyền. Trước đây, Luật Bản Quyền không phải là vấn đề gây tranh cãi nhiều vì các phần mềm chỉ đơn thuần là công cụ để hỗ trợ quá trình sáng tạo của con người. Hơn nữa, các sản phẩm sáng tạo vốn dĩ đã là độc nhất vô nhị vì chúng được tạo ra nhờ bộ não của con người, tố chất của từng người. Do đó chẳng thể nào ăn cắp được các sản phẩm sáng tạo. Luật Bản Quyền của Đức và Tây Ban Nha cũng chỉ ra rằng công việc của bộ não con người luôn luôn được bảo mật.

Do đó, có 2 lý do tại sao bản quyền cần phải áp dụng cho các phát minh do máy tính tạo ra. Thứ nhất, Luật Bản Quyền hiện nay chỉ có thể áp dụng khi có sự can thiệp của trí tuệ con người. Thứ hai, Luật Bản Quyền có thể đóng góp vào quá trình sáng tạo phần mềm.

Đối với lý do đầu tiên, Luật bản quyền hiện hành của nhiều đất nước không được áp dụng cho các sáng chế phi con người (không có sự can thiệp của con người). Ví dụ, ở Hoa Kỳ, Văn phòng Bản quyền Mỹ đã công bố là sẽ đăng ký bản quyền cho các tác phẩm văn học nếu như những tác phẩm đó do con người tạo ra. Tuyên bố này được đưa ra ngay sau khi vụ kiện tụng giữa Feist Publications và Công ty Dịch vụ Viễn thông Nông thôn kết thúc. Ngay sau đó, trong một vụ kiện tụng gần đây ở Úc giữa Công ty TNHH Aschos Pty và Công ty TNHH Uorp Pty, quan tòa đã khẳng định Luật Bản Quyền không được áp dụng vì sáng chế tranh chấp giữa hai bên là do các máy tính tạo ra.

Tòa án Liên Minh châu Âu cũng tuyên bố trong phán quyết của họ rằng các sáng kiến được luật pháp bảo vệ phải là do trí tuệ con người tạo ra. Điều đó có nghĩa là con người phải là nhà sáng chế ra những sản phẩm đó.

Bản Quyền còn được áp dụng đối với những người lập trình viên hoặc những người sáng chế. Điều này có thể thấy rõ ở các quốc gia như Ấn Độ, New Zealand, Anh Quốc, Hồng Kong. Thậm chí nó còn được ghi rõ trong mục 9(3) của Điều Luật Bản Quyền, Thiết kế và Bằng Sáng Chế của Anh Quốc.

“Trong trường hợp các tác phẩm văn học, kịch, nghệ thuật hoặc âm nhạc do máy tính tạo ra, tác giả được luật pháp công nhận phải là những người tham gia vào công việc thiết lập chương trình cho máy tính thực hiện công việc sáng tạo”.

Điều luật này đặt ra một câu hỏi là vậy người mà được công nhận quyền tác giả là những người thiết lập máy tính để tạo ra tác phẩm, hay người lập trình viên, hay là người sử dụng phần mềm. Đối với công việc viết văn, liệu quyền tác giả có nên trao cho nhà sản xuất bút hay cho các tác giả văn học, những người sử dụng các cây bút đó để viết.

Tương tự đối với trí tuệ nhân tạo, có nhiều thuật toán có khả năng tạo ra 1 tác phẩm. Người dùng chỉ đóng góp vào quá trình sáng tạo bằng cách nhấn nút trong khi phần mềm sẽ thực hiện toàn bộ công việc còn lại. Vậy ai mới là người nên được trao quyền tác giả, phần mềm, hay là người dùng?

Luật pháp có thể giải quyết tùy theo từng trường hợp. Trong một vụ kiện ở Anh giữa Nova Productions và Mazooma Games4, quan tòa đưa ra phán quyết rằng quyền tác giả của trò chơi máy tính đó không thuộc về người chơi vì hoạt động của họ bản chất không liên quan đến nghệ thuật, vì vậy không đóng góp được gì cho trò chơi hay phần mềm.

Tóm lại, mọi thứ trong tương lai sẽ trở nên phức tạp hơn khi Trí tuệ nhân tạo được sử dụng rộng rãi trong giới nghệ thuật. Con người sẽ không thể phân biệt nổi đâu là tác phẩm do con người tạo ra và đâu là sản phẩm của Trí tuệ nhân tạo. Tiến bộ trong thuật toán và xử lý dữ liệu đang giúp cho máy tính bắt chước con người ngày một giống và tinh vi hơn. Chúng ta không thể nói không với Trí tuệ nhân tạo, nhưng chúng ta cần phải tạo ra một màng bảo vệ cho các sáng kiến hay tác phẩm do Trí tuệ nhân tạo tạo ra.

Cuối cùng, việc cấp Bản Quyền tác giả cho các cá nhân hoặc đơn vị có đóng góp phần mềm Trí tuệ nhân tạo dường như là cách tiếp cận thực tế nhất để khuyến khích các cá nhân và đơn vị này tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo.

Thu Hà


Vinamilk
Sunshine

Xuân Tài
SO HUU TRI TUE