Vinamilk

Bảo hộ bí mật kinh doanh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(SHTT) - Trái với sáng chế, bí mật kinh doanh được bảo hộ không cần phải đăng ký, có nghĩa là bí mật kinh doanh được bảo hộ mà không cần bất cứ hình thức mang tính thủ tục nào. Bởi vậy, một bí mật kinh doanh có thể được bảo hộ vô thời hạn.

Bí mật kinh doanh là gì?

Nói theo nghĩa rộng, một thông tin kinh doanh bí mật bất kỳ mà tạo cho một doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh đều có thể được coi là bí mật kinh doanh. Bí mật kinh doanh bao gồm: các bí mật về công nghiệp hoặc sản xuất và bí mật thương mại. Việc sử dụng trái phép thông tin này bởi những người khác không phải là chủ sở hữu đều bị coi là thực tiễn không lành mạnh và xâm phạm bí mật kinh doanh.

Success-secrets

Việc bảo hộ bí mật kinh doanh rất phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ 

Đối tượng của bí mật kinh doanh thường được xác định trong phạm vi rộng và bao gồm các phương pháp bán hàng, các phương pháp phân phối, các hồ sơ khách hàng, các chiến lược quảng cáo, các danh sách các nhà cung cấp và khách hàng, các quy trình sản xuất. Khi việc xác định xem thông tin nào tạo nên một bí mật kinh doanh sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng trường hợp cụ thể, thì một cách rõ ràng rằng, thực tiễn không lành mạnh của thông tin bí mật, bao gồm tình báo công nghiệp hoặc thương mại, vi phạm hợp đồng và vi phạm lòng tin.

Bí mật kinh doanh được bảo hộ như thế nào?

Trái với sáng chế, bí mật kinh doanh được bảo hộ không cần phải đăng ký, có nghĩa là bí mật kinh doanh được bảo hộ mà không cần bất cứ hình thức mang tính thủ tục nào. Bởi vậy, một bí mật kinh doanh có thể được bảo hộ vô thời hạn. Với những lý do này, việc bảo hộ bí mật kinh doanh có vẻ như đặc biệt hấp dẫn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, có một số điều kiện để một thông tin được coi là bí mật kinh doanh. Thỏa mãn các điều kiện này có thể sẽ thấy khó và tốn kém hơn so với việc nhìn nhận ban đầu. Trong khi các điều kiện này khác nhau ở các quốc gia, thì có một số tiêu chuẩn chung được đề cập tới trong Điều 39 Hiệp định TRIPS:

- Thông tin phải là bí mật (có nghĩa là không được biết đến một cách chung, hoặc sẵn có để có thể tiếp cận, với nhóm người thường xuyên xử lý loại thông tin được nói tới).

- Phải có giá trị thương mại vì nó là một bí mật.

- Phải là đối tượng để người nắm giữ hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng những biện pháp hợp lý (ví dụ thông qua các hợp đồng bảo mật).

Ví dụ: Công thức chế biến đồ uống nhẹ mang tên Coca Cola là một bí mật kinh doanh của công ty Coca Cola. Chỉ một vài người trong công ty biết được công thức này và nó được giữ bí mật trong một chiếc hầm của ngân hàng ở Atlanta, bang Georgia. Những người biết được công thức bí mật này đã ký hợp đồng không tiết lộ. Chính vì quyết định giữ bí mật về công thức này, thay vì đang ký cấp bằng sáng chế, đến nay, công ty Coca Cola vẫn là doanh nghiệp duy nhất có thể sản xuất được loại nước uống đặc biệt được toàn cầu ưa chuộng.

Còn nếu công thức này được cấp bằng sáng chế (chỉ đươc bảo hộ tối đa là 20 năm, sau đó sẽ trở thành tài sản chung của nhân loại), mọi thành phần và công đoạn chế biến Coca Cola sẽ được bộc lộ công khai, và cả thế giới đều có thể sản xuất Coca Cola.

Trong trường hợp của cocacola, việc bảo hộ bí mật kinh doanh là một lựa chọn khôn ngoan hơn so với bảo hộ sáng chế.

Nên đăng kí bảo hộ sáng chế hay bảo hộ bí mật kinh doanh?

Bí mật kinh doanh có một số ưu điểm nổi bật như: Không bị hạn chế về mặt thời gian (sáng chế thường được kéo dài đến 20 năm). Nó sẽ còn được kéo dài tới chừng nào bí mật đó còn chưa bị bộc lộ ra công chúng. Không những vậy, bí mật kinh doanh không đòi hỏi chi phí đăng ký và phát sinh hiệu lực ngay lập tức. Và việc bảo hộ bí mật kinh doanh cũng không đòi hỏi phải tuân theo những hình thức như bộc lộ thông tin cho cơ quan chính phủ.

bao-ho-bi-mat-kinh-doanh

 

Tuy nhiên, có một số bất lợi cụ thể trong việc bảo hộ thông tin kinh doanh bí mật như một bí mật kinh doanh, đặc biệt khi thông tin đáp ứng các tiêu chuẩn để có khả năng được cấp bằng sáng chế.

Nếu bí mật được thể hiện dưới dạng một sản phẩm mang tính chất đổi mới, thì những người khác có thể kiểm tra, mổ xẻ và phân tích nó (tức là “phân tích ngược” nó) và phát hiện bí mật, và sau đó sẽ có quyền sử dụng nó. Việc bảo hộ bí mật kinh doanh một sáng chế, thực chất không tạo độc quyền để loại trừ bên thứ ba khỏi việc sử dụng thương mại nó. Chỉ có sáng chế hoặc giải pháp hữu ích có thể có dạng bảo hộ này.

Một bí mật kinh doanh khó thực thi hơn một sáng chế. Mức độ bảo hộ dành cho bí mật kinh doanh khác nhau một cách đáng kể theo các nước, nhưng nói chung là yếu, đặc biệt khi so với bảo hộ dành cho sáng chế. Một khi bí mật bị công bố, thì bất kỳ người nào cũng có thể tiếp cận và sử dụng nó một cách tùy ý.

Hơn thế, một bí mật kinh doanh có thể được cấp bằng sáng chế cho một người nào đó tự phát triển thông tin liên quan bằng các cách thức hợp pháp.

Các biện pháp phòng ngừa được doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng

Các bí mật kinh doanh được sử dụng một cách rộng rãi bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thực tế, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như hoàn toàn dựa vào bí mật kinh doanh để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của mình (mặc dù trong nhiều trường hợp họ có thể thậm chí không nhận thức rằng bí mật kinh doanh được bảo hộ về mặt pháp lý). Vì vậy, điều quan trọng là phải đảm bảo rằng, các doanh nghiệp đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để bảo vệ bí mật kinh doanh của mình một cách hữu hiệu. Điều này bao gồm:

Thứ nhất, xem xét bí mật đó có khả năng bảo hộ theo sáng chế hay không, và nếu có thì việc bảo hộ theo sáng chế có tốt hơn không.

Thứ hai, chắc chắn rằng một số lượng người có hạn biết về bí mật đó và tất cả những người này đều phải nhận biết đó là thông tin mật.

Thứ ba, có các thỏa thuận về bảo mật trong các hợp đồng lao động. Tuy nhiên, theo pháp luật của nhiều nước, người lao động phải chịu trách nhiệm bảo mật với người sử dụng lao động thậm chí ngay khi không có các hợp đồng này. Trách nhiệm giữ bí mật của người sử dụng lao động thường được duy trì, ít nhất là trong một thời hạn xác định, thậm chí cả sau khi người làm lao động đã thôi việc.

Thứ tư, ký các hợp đồng bảo mật với các đối tác kinh doanh bất kể khi nào phải bộc lộ thông tin mật.

Những tình huống mà doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể hưởng lợi từ bảo hộ bí mật kinh doanh

free-business-plan-templates-800x445

 Ảnh minh hoạ

Trong khi một quyết định sẽ phải được đưa ra trên cơ sở của từng vụ việc, trong những trường hợp sau đây nên thực hiện bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh:

- Khi bí mật không có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế.

- Khi rất có khả năng thông tin có thể được giữ bí mật trong thời hạn đáng kể. Nếu thông tin bí mật tạo bởi sáng chế có khả năng được cấp bằng độc quyền sáng chế, việc bảo hộ bí mật kinh doanh chỉ thích hợp nếu bí mật đó có thể giữ được trên 20 năm (thời hạn bảo hộ dành cho một sáng chế) và nếu những người khác không thể đến được sáng chế tương tự bằng cách thức hợp pháp.

- Khi bí mật kinh doanh không được xem là có giá trị lớn tương xứng với một bằng độc quyền sáng chế (mặc dù giải pháp hữu ích có thể là một sự lựa chọn tốt ở những nước có bảo hộ đối với giải pháp hữu ích).

- Khi bí mật liên quan đến quy trình sản xuất hơn là sản phẩm, vì các sản phẩm sẽ có khả năng bị phân tích ngược hơn.

- Khi bạn đã nộp đơn để xin cấp và chờ được cấp bằng độc quyền sáng chế.

Tuy nhiên, điều quan trọng phải ghi nhớ rằng bảo hộ bí mật kinh doanh thường yếu ở hầu hết các nước, rằng điều kiện và phạm vi bảo hộ của nó có thể khác nhau đáng kể theo các nước phụ thuộc vào các cơ chế pháp luật hiện hành và luật án lệ, và rằng các tòa án có thể yêu cầu những nỗ lực đáng kể và tốn kém để duy trì bí mật. Việc bảo hộ sáng chế hay giải pháp hữu ích, bất kể ở nơi nào có thể, sẽ cung cấp sự bảo hộ mạnh hơn nhiều.

Minh Tuệ (Nguồn: WIPO.INT)


Vinamilk
Sunshine

Xuân Tài
SO HUU TRI TUE