Báo cáo 301: Cơ hội để Việt Nam tiệm cận chuẩn mực quốc tế về sở hữu trí tuệ
Liên quan đến Báo cáo 301 của Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR), PV Tạp chí Sở hữu Trí tuệ và Sáng tạo đã có những chia sẻ với luật sư Đặng Văn Dũng – Giám đốc Công ty Luật TNHH Hãng Luật Quốc Tế Tự Do – về những nguyên nhân khiến Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) đưa Việt Nam vào nhóm Quốc gia nước ngoài ưu tiên, mức đánh giá nghiêm trọng nhất trong hệ thống phân loại về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Việt Nam là “điểm nóng” vi phạm bản quyền
Theo luật sư Đặng Văn Dũng, một trong những nguyên nhân được phía USTR đưa ra là việc Việt Nam vẫn được xem là nguồn phát tán vi phạm bản quyền trực tuyến. Đặc biệt là các trang web cung cấp phim và chương trình truyền hình lậu, được cho là có liên hệ hoặc đặt hạ tầng tại Việt Nam. Đáng chú ý, USTR cho rằng các hệ thống này không chỉ phục vụ người dùng trong nước mà còn hướng tới thị trường quốc tế. Điều này khiến phía USTR đánh giá Việt Nam không còn là “thị trường tiêu thụ” mà đã trở thành “trung tâm trung chuyển” nội dung vi phạm bản quyền toàn cầu.
Điển hình, sau khi trang web lưu trữ video 2embed có trụ sở tại Việt Nam bị đóng cửa vào tháng 7/2023, tên miền MegaCloud đã thay thế trang web này và tiếp tục các hoạt động vi phạm bản quyền. Hệ thống lưu trữ MegaCloud được thống kê cung cấp hơn 46.000 phim và 16.000 phim truyền hình vi phạm bản quyền, trực tiếp đến hơn 260 trang web phát trực tuyến vi phạm bản quyền khác.
Giới chuyên môn đánh giá nước ta vẫn tồn tại nhiều vi phạm về sở hữu trí tuệ, đặc biệt trên môi trường số. Ảnh AI
Thống kê vào tháng 7/2025, các trang web sử dụng mạng lưới MegaCloud được cho là đã nhận được hơn 600 triệu lượt truy cập hàng tháng.
Thống kê vào tháng 8/2025, MyFlixerz và mạng lưới các trang web phát trực tuyến vi phạm bản quyền liên quan có thể đã nhận được hơn 622 triệu lượt truy cập.
“Những con số này phản ánh một hệ sinh thái vi phạm có quy mô vượt xa các hành vi vi phạm nhỏ lẻ. Mặc dù chúng ta đã có những động thái tích cực như đóng cửa một số trang web lớn và tăng cường truy tố hình sự, nhưng vấn đề cốt lõi nằm ở tính răn đe của các biện pháp xử lý còn chưa đủ”, luật sư Dũng nhận định.
Hàng giả vẫn tràn lan
Hiện nay, hàng giả, cả sản xuất trong nước và nhập khẩu, vẫn được bày bán rộng rãi và công khai tại các chợ truyền thống. Thậm chí, hàng giả tràn lan và ngày càng được bán nhiều hơn thông qua các nền tảng thương mại điện tử và hoạt động livestream bán hàng
Sự chuyển dịch sang môi trường số khiến việc kiểm soát trở nên khó khăn hơn, đồng thời mở rộng quy mô vi phạm. Đáng lo ngại, nhiều sản phẩm giả mạo liên quan trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng như sữa giả, thực phẩm chức năng giả, thuốc giả,..
Điều này không chỉ là vấn đề sở hữu trí tuệ mà còn liên quan đến an toàn công cộng và niềm tin thị trường.
Khoảng trống pháp lý trong truyền hình trả tiền
Một điểm đáng chú ý là sự thiếu đồng bộ giữa Luật Sở hữu trí tuệ (đã sửa đổi) và Bộ Luật Hình sự (chưa cập nhật tương ứng). Mặc dù Điều 35 của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành đã định nghĩa hành vi xâm phạm quyền liên quan đến việc giải mã trái phép tín hiệu vệ tinh, nhưng điều khoản tương ứng trong Bộ Luật Hình sự vẫn chưa rõ ràng về quy định hình phạt hình sự đối với các vi phạm cụ thể.
Luật Sở hữu trí tuệ và Bộ Luật Hình sự cũng không đề cập rõ ràng đến hành vi trộm cắp tín hiệu truyền hình cáp. Chính việc chưa được quy định rõ ràng về chế tài hình sự đã tạo ra một “vùng xám pháp lý”, khiến việc xử lý vi phạm gặp khó khăn
Hiệu quả thực thi chưa đủ sức răn đe
Ngoài vấn đề chế tài, hệ thống thực thi còn đối mặt với nhiều rào cản như thiếu rõ ràng về ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự, khó khăn trong xử lý tài sản kỹ thuật số (tên miền, dữ liệu số) và thiếu hướng dẫn cụ thể về chứng cứ phi vật thể.
Luật sư Đặng Văn Dũng – Giám đốc Công ty Luật TNHH Hãng Luật Quốc Tế Tự Do.
Lâu nay, cơ quan chức năng thường dựa vào các biện pháp xử lý hành chính là chủ yếu. Tuy nhiên, biện pháp này không có tác dụng răn đe như các biện pháp dân sự và hình phạt hình sự. Nhiều vụ việc dù quy mô rất lớn nhưng mức độ xử lý không tương xứng, tạo ra một tín hiệu tiêu cực là chi phí vi phạm thấp hơn nhiều so với lợi ích kinh tế thu được, từ đó không đủ sức ngăn chặn các hành vi tái phạm.
Ngoài ra, năm 2025, Việt Nam trải qua việc sáp nhập các cơ quan ban ngành, bao gồm việc tái cấu trúc lực lượng quản lý thị trường, tạo ra những khoảng trống tạm thời trong thực thi. Số liệu thống kê cho thấy số vụ xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ và hàng hóa không rõ nguồn gốc/kém chất lượng năm 2025 giảm tới 50% so với năm 2024.
Đây là một dấu hiệu cho thấy hiệu quả thực thi đang suy giảm, dù chưa chắc phản ánh sự giảm thực tế của vi phạm. Việc phân cấp về địa phương đã dẫn đến những lỗ hổng trong việc thực thi pháp luật mà người bán hàng giả có thể lợi dụng. Bên cạnh đó, việc thực thi pháp luật chống hàng giả còn thiếu sự phối hợp giữa các bộ, ngành và sự chậm trễ trong việc xử lý các vụ việc.
“Việc Việt Nam bị đưa vào nhóm quốc gia nước ngoài ưu tiên không chỉ là vấn đề hình ảnh hay quan hệ thương mại, mà còn là lời cảnh báo về yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ. Nếu không nhanh chóng khắc phục các khoảng trống pháp lý, nâng cao tính răn đe của các chế tài, Việt Nam có thể đối mặt với nhiều áp lực lớn hơn trong quan hệ thương mại quốc tế, cũng như nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ngược lại, đây cũng có thể được xem là cơ hội để Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng hiện đại, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế”, luật sư Đặng Văn Dũng - Giám đốc Công ty Luật TNHH Hãng Luật Quốc Tế Tự Do – nhận định.
Tân Nguyên
TIN LIÊN QUAN
-
TME gỡ bỏ hơn 250.000 bài hát vi phạm bản quyền: Nỗ lực lớn trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ
-
Từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn Việt Nam: Đâu là mô hình thực thi sở hữu trí tuệ hiệu quả trong kỷ nguyên số?
-
Việt Nam triển khai tháng cao điểm xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không vùng cấm
-
Photo giáo trình có phải là hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ?
Tin khác
- Phần mềm dms quản lý bán hàng winmap.vn Quản trị dòng tiền kênh phân phối GT/MT