Bản quyền âm nhạc tại nhà hàng, quán cà phê: Góc nhìn từ thế giới
Thực tế, khoản tiền trả phí cho YouTube Premium hoặc Spotify Premium chỉ giới hạn trong phạm vi "quyền nghe cá nhân", phi thương mại. Điều này được quy định rất rõ trong điều khoản sử dụng của các ứng dụng: người dùng không có quyền truyền phát những âm thanh đó tại các không gian công cộng hay cơ sở kinh doanh. Khi một bài hát được bật lên tại quán cà phê để giữ chân khách hàng, nó đã biến thành một công cụ hỗ trợ hoạt động thương mại. Lúc này, chủ cơ sở bắt buộc phải trả một khoản phí thứ hai: tiền bản quyền biểu diễn và truyền đạt tác phẩm đến công chúng. Đây là hai quyền hoàn toàn độc lập được bảo hộ nghiêm ngặt bởi Công ước Berne mà Việt Nam và hơn 180 quốc gia khác là thành viên.
Nhìn rộng ra thế giới, việc thu phí bản quyền âm nhạc tại các tụ điểm kinh doanh dịch vụ ăn uống là câu chuyện hiển nhiên, song cách mỗi quốc gia thu tiền lại mang những nét đặc thù riêng biệt.
Tại Việt Nam, cơ chế thu phí được định hình rõ nét thông qua Nghị định 17/2023 và mới đây là Nghị định 134/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026). Điểm đặc trưng của Việt Nam là lấy diện tích kinh doanh và phân loại đô thị làm căn cứ cốt lõi. Số tiền được tính bằng cách lấy mức lương cơ sở nhân với một hệ số điều chỉnh lũy tiến từng phần theo mét vuông thực tế. Các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM sẽ áp mức 100%, trong khi các tỉnh thành nhỏ hơn được chiết khấu sâu, đồng thời khống chế mức trần không quá 8 lần lương cơ sở mỗi năm.
Từ 1/7, quán cà phê bật nhạc cho khách nghe phải trả phí. Ảnh: D.Anh/Vietnamnet
Cơ chế dựa vào diện tích này có phần tương đồng với Hàn Quốc. Ủy ban Bản quyền Hàn Quốc (KCC) cũng áp phí theo quy mô mặt bằng được cấp phép kinh doanh, dao động từ mức vài nghìn won một tháng và miễn phí hoàn toàn cho các quán siêu nhỏ dưới 50 m².
Tuy nhiên, nhiều quốc gia Âu - Mỹ lại từ chối cách tính có phần "cào bằng" theo diện tích vì cho rằng diện tích rộng chưa chắc đã đông khách hay dùng hệ thống âm thanh đắt đỏ.
Tại Anh, tổ chức quản lý chung TheMusicLicence thiết lập một công thức kết hợp đầy tính thực tế: Phí bản quyền hằng năm = Mức phí cố định theo diện tích + Khoản phụ thu tính theo số lượng loa. Nghĩa là, hai quán có cùng diện tích tại London nhưng quán nào đầu tư hệ thống âm thanh vòm 10 loa công suất lớn sẽ phải chi trả nhiều hơn hẳn quán chỉ treo 2 chiếc loa nhỏ ở góc tường. Đặc biệt, nước Anh áp dụng mức phạt nặng lên tới 50% nếu phát hiện cơ sở kinh doanh "phát nhạc chui" trước khi đăng ký.
Mỹ lại chọn một lối đi khác khi lấy sức chứa tối đa (occupancy) của cơ sở làm biến số quyết định. Hiệp hội Nhà soạn nhạc, Tác giả và Nhà xuất bản Mỹ (ASCAP) sẽ tính toán mức phí trên đầu người dựa theo sức chứa do cơ quan có thẩm quyền cấp phép, rồi nhân tổng lại thành gói phí năm. Nếu quán không có thông số sức chứa cụ thể, ASCAP mới quy đổi từ diện tích theo tỷ lệ đóng khung sẵn là 1 người cho mỗi 20 feet vuông (khoảng 1,86 m²).
Khu vực Đông Nam Á lại chứng kiến những tư duy quản lý mang tính thị trường rất cao. Singapore là một ví dụ điển hình cho việc áp dụng cơ chế lũy thoái dựa trên số ghế ngồi thực tế nhằm giảm bớt gánh nặng cho các chuỗi nhà hàng lớn. Hiệp hội Nhà soạn nhạc và Tác giả Singapore (COMPASS) quy định 40 chiếc ghế đầu tiên của quán sẽ chịu mức phí cao nhất, 40 chiếc tiếp theo giảm gần một nửa, và từ chiếc ghế thứ 81 trở đi đơn giá chỉ còn một phần ba. Ngược lại, họ thắt chặt các thiết bị phần cứng khi áp thêm khoản phụ thu tính theo từng inch đường chéo của các màn hình tivi lắp đặt trong không gian quán.
Tại Thái Lan, tổ chức MPC Music phân loại nhà hàng, quán bar, pub thành các hạng từ A đến F dựa trên hiệu suất khai thác chỗ ngồi để thu các mức khoán cố định hằng năm. Đáng chú ý, mức phí tính theo ghế này mới chỉ là tấm vé để chủ quán khai thác kho nhạc thuộc quyền quản lý của MPC Music. Nếu muốn phát những bài hát độc quyền thuộc các hãng đĩa tư nhân lớn khác, các chủ cơ sở buộc phải mua thêm các gói danh mục độc lập theo từng năm.
Nỗi ám ảnh về việc phải trả tiền cho nhiều đầu mối thu phí cũng là đặc trưng tại thị trường Mỹ. Thay vì gom về một mối như giấy phép hợp nhất tại Anh hay các tổ chức đại diện lớn ở Nhật Bản (JASRAC), Malaysia (MACP, PPM), thị trường Mỹ bị chia nhỏ bởi hàng loạt tổ chức quản lý quyền biểu diễn như ASCAP, BMI, SESAC hay GMR. Mỗi bên nắm giữ một danh mục tác phẩm riêng của các nghệ sĩ khác nhau. Do đó, để thực khách có thể thoải mái nghe từ nhạc Pop, Rock đến Jazz mà không sợ vướng vòng lao lý, một chủ quán cà phê tại Mỹ thường phải ký hợp đồng và nộp tiền song song cho nhiều tổ chức cùng một lúc.
Bức tranh toàn cảnh cho thấy, nghĩa vụ trả tiền bản quyền âm nhạc khi kinh doanh là một hành lang pháp lý quốc tế không thể né tránh. Sự khác biệt giữa các quốc gia chỉ nằm ở cách tính toán làm sao cho hài hòa giữa lợi ích của người sáng tạo và năng lực tài chính của doanh nghiệp, từ những công thức tính mét vuông, đếm số loa cho đến việc cân đo từng chiếc ghế ngồi của thực khách.
Hương Mi
TIN LIÊN QUAN
-
Triệt phá đường dây giả mạo hơn 5.000 sản phẩm mực in Epson và Canon tại Hà Nội
-
Eminem thua bước đầu trong tranh chấp nhãn hiệu với thương hiệu Swim Shady tại Australia
-
Thu hồi toàn quốc hai lô mỹ phẩm Dr. Clean và Young Rau Má do sai lệch công thức
-
Tài tử Ngô Khải Hoa nhượng bản quyền hình ảnh cho công nghệ AI